Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

Làng văn hóa du lịch Plei Ốp (Gia Lai)


Làng Ốp theo tiếng Jarai là PleiỐP. Đây là làng đồng bào Jarai nằm ở trung tâm thành phố Pleiku có nhiều tiềm năng về du lịch và có vị trí thuận lợi cho sinh hoạt của các làng dân tộc khác.

Bên cạnh ưu điểm về vị trí địa lý, thuận lợi cho giao thông đi lại tham quan thì người dân nơi đây với tinh thần đoàn kết, giữ gìn bản sắc văn hoá của cha ông đã giúp PleiỐp bảo tồn được nhiều nghề truyền thống như đan lát, dệt thổ cẩm, tạc tượng …Thiên nhiên ưu đãi cho vùng đất này suối Giọt và các cảnh quan thiên nhiên hùng vỹ. Trải qua hai cuộc kháng chiến nhân dân làng Ốp đã chứng minh được bản chất đôn hậu và anh dũng.

Ngày nay Pleiốp đang từng bước phát triển đi lên bằng chính tiềm năng và sức mạnh truyền thống của mình. Nằm trong kế hoạch bảo tồn và phát triển các di tích lịch sử trên địa bàn thành phố, Pleiốp đang được sự đầu tư và quan tâm của nhiều ban ngành, cơ quan cũng như nhân dân trên địa bàn tỉnh nói chung và những ai quan tâm đến văn hóa dân tộc nói riêng.



Sau gần 1 năm chung tay cùng dân làng, Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng cốt lõi của một Làng văn hóa du lịch. 

Sân làng Ốp giờ đã trở thành sân sinh hoạt tập thể cũng như giao lưu chung của nhiều làng đồng bào khác. Nhà Rông lợp lại mái, sân được tu sửa lại phù hợp, rộng rãi và đẹp hơn.

Mọi người quây quần trước mái nhà rông, dưới cây nêu để được đánh lên tiếng chiêng, tiếng cồng để cùng nhau thưởng thức ché rượu cần thơm ngon. Sự quây quần, vui vẻ của các dân tộc anh em trên địa bàn tỉnh đã tạo thêm nhiều màu sắc, giai điệu cho tiếng chiêng, cho điệu múa soang. Làng Ốp đã có đội cồng chiêng phục vụ cho các buổi sinh hoạt của dân làng, giao lưu với các đơn vị. Đội cồng chiêng ý thức được giá trị của giai điệu cồng chiêng nên ra sức tập luyện, phục vụ sinh hoạt và biểu diễn.

Từ những thành công bước đầu trong việc xây dựng làng văn hóa, rất nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao của thành phố và các đơn vị đã diễn ra tại đây.

Hàng tháng đội thông tin lưu động của thành phố cố gắng tổ chức một đêm giao lưu văn nghệ tại làng, vừa giao lưu vừa tuyên truyền đường lối của Đảng và các chính sách pháp luật của Nhà Nước, đồng thời góp phần đẩy mạnh phong trào xây dựng làng văn hóa du lịch. Mỗi năm, Hội thao các dân tộc thiểu số tổ chức một lần tại đây. Các làng đồng bào dân tộc thiểu số về đây giao lưu, trò chuyện và cùng nhau kể về buôn làng của mình. 

Câu chuyện như không muốn dứt khi mọi người cùng nhau múa soang quanh ché rượu cần. Du khách đến với PleiỐp được vui vẻ với những điệu múa soang, được trải lòng với thiên nhiên, được thả hồn vào những điệu soang cùng tiếng cồng, tiếng chiêng cao vút ấm áp giữa núi rừng Tây Nguyên.


Mỗi lễ hội, mỗi dịp giao lưu của các buôn làng diễn ra tại đây thành công là một niềm vui đến với buôn làng và cả những người, những đơn vị có tâm huyết với PleiỐp. PleiỐp 10 năm liền là Làng văn hoá đang phát triển theo hướng văn hoá du lịch, từng bước phát huy tiềm năng, thế mạnh sẵn có của địa phương. Những thành công ban đầu của PleiỐp hứa hẹn một làng văn hóa du lịch, thu hút sự quan tâm của du khách trong và ngoài tỉnh.                               

Theo du lịch Gia Lai

Chùa Bửu Minh (Gia Lai)


Cách trung tâm TP. Pleiku hơn 15km về phía Bắc, chùa Bửu Minh (còn được gọi là chùa Biển Hồ Trà - thuộc hệ phái Bắc tông) tọa lạc tại xã Nghĩa Hưng (huyện Chư Pah), là một trong những ngôi chùa ra đời sớm ở Gia Lai.

Đầu thế kỷ XX, tại khu vực Biển Hồ: cư dân từ đồng bằng lên lập ngôi làng mang tên “Xóm Cỏ May”. Từ nhu cầu tín ngưỡng của nhiều người, một nơi thờ tự có tên “Sơn Hải Miếu” - tiền thân của chùa Bửu Minh được thành lập. Đến năm 1936, chùa được xây dựng lần đầu với tên gọi là “Chùa Phật Học”, sau đó ngôi chùa tiếp tục được trùng tu và chính thức mang tên là Bửu Minh từ năm 1961 đến nay.



Mặt tiền của chùa hướng Tây, nhìn về Biển Hồ nước, phía sau là Tiên Sơn. Đây chính là vị trí địa lý và phong thủy hài hòa cho sự ra đời của ngôi chùa. Trong gần một thế kỷ, chùa Bửu Minh trải qua 5 lần thay đổi thầy trụ trì, từ năm 1989 đến nay là Thượng tọa Thích Giác Tâm (Thầy Giác Tâm).

Để đáp ứng nhu cầu về chùa lễ phật và tu học ngày càng đông của bà con phật tử xa gần, thầy trụ trì đã dành hết tâm huyết để thực hiện việc đại trùng tu và xây dựng mới ngôi chùa với quy mô kiến trúc kiên cố. Trước khi bắt tay vào xây dựng, thầy đã có hơn 10 năm dày công nghiên cứu tìm hiểu nhiều loại hình kiến trúc chùa ở các vùng miền trong nước nhất là chùa cổ còn tồn tại ở miền Bắc và miền Trung nước ta, cũng như một số kiến trúc chùa tiêu biểu của Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc để rút ra ý tưởng cho công trình này.



Thầy còn tự tay dùng gỗ phác thảo mô hình ngôi chùa sắp xây dựng, sau đó thầy cùng với kiến trúc sư thực hiện bản vẽ thiết kế, đến cuối năm 2003 thì hoàn tất công việc chuẩn bị và bắt đầu khởi công xây dựng. Thầy Giác Tâm còn cất công đi tìm mời thợ giỏi từ Thừa Thiên-Huế và Bình Định về làm.

Toàn bộ ngôi chùa được thiết kế bằng bê tông cốt thép, có sự kết hợp hài hòa giữa lối kiến trúc gỗ, với mô típ chùa cổ ở miền Bắc và miền Trung nước ta cùng kiểu dáng chùa Nhật Bản và Đài Loan. Nét riêng của chùa Bửu Minh là chỉ có một đòn dông duy nhất, với một mái trước và một mái sau dốc đến 45 độ, tạo dáng cao vút và thanh thoát như mái nhà rông Tây Nguyên.



Riêng mái sau được thiết kế mang tính đột phá hơn bởi có phần tháp ngay chính giữa tâm mái, tạo một không gian chung bên trong tháp và chánh điện. Với chiều cao từ nền chánh điện đến đỉnh tháp hơn 47 mét, giới am hiểu kiến trúc cho rằng: Nếu xem đỉnh tháp vừa là đỉnh mái chùa, thì chùa Bửu Minh nằm trong tốp những ngôi chùa có đỉnh mái cao ở Việt Nam.

Thân của tháp được thiết kế theo hình vuông đều nhau ở 3 tầng chính với đường kính hơn 3 mét, ngọn tháp cũng có các chi tiết chạm khắc sắc sảo. Các góc mái của 3 tầng tháp có gắn kết những con rồng uyển chuyển. Khi đứng xa chừng vài km nhìn về hướng chùa, hòa quyện trong không gian với đồi chè xanh ngắt và con đường có những hàng thông gần trăm tuổi, chùa Bửu Minh hiện ra vững chãi với dáng đứng uy nghi và hoành tráng, mang phong cách vừa cổ kính và hiện đại, trông hơi giống chùa Nhật Bản.

Nhờ kết cấu hệ thống trụ, dầm, vì kèo… chắc chắn, làm điểm tựa cho mái và các phần chi tiết cách điệu của công trình. Phần cong tại các góc mái vươn dài ra hơn 3 mét, được gắn kết hình cá rồng theo mô típ của chùa Một Cột và đầu rồng theo mô típ chùa Tây Phương ở Hà Nội. 



Chánh điện rộng 520 m2 nền vách được phối bởi màu sắc phù hợp, tạo cảm giác ấm cúng và sự trang nghiêm khi vào lễ Phật. Trung tâm của chánh điện là tượng Phật Thích Ca ngồi (bằng đá trắng cao 3 mét). Vách sau lưng tượng được thiết kế một con rồng uốn mình vươn lên, miệng ngậm chiếc “bảo cái” (như lộng che) trên đầu Phật.

Trong chánh điện còn một số tượng khác như Phật A Di Đà và Quán Thế Âm, cùng các vị bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng... Riêng tượng Phật nghìn mắt nghìn tay, do các nghệ nhân làng Sơn Đồng-Hà Tây (cũ) làm từ gỗ mít rất sắc sảo, ngoài nhũ vàng. Đây là pho tượng được tái tạo theo mẫu ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh).



Đứng bên ngoài nhìn vào chùa, hai bên tam cấp dẫn vào chánh điện là cặp  rồng (trong thế rồng chầu) dài hơn 8 mét và cao 2,5 mét. Góc sân trái có đặt tượng Quán Thế Âm lộ thiên cao hơn 3 mét đứng trên đài sen, nhưng điểm độc đáo là phía sau tượng có đúc một chiếc lục bình cao gần 8 mét với 5 hoa sen. Bên phải sân chùa có tượng Thích Ca lộ thiên cao hơn 3 mét trong thế ngồi thiền, cùng pho tượng Thích Ca ở thế nằm (dài 11 mét) với gương mặt thanh thản tự tại. Đây là 2 công trình nghệ thuật do chính tay Thầy Giác Tâm và một số thợ cùng làm trong nhiều năm.

Thầy cho rằng: “Đúc tạc tượng sao cho đẹp đã là một nghệ thuật vô cùng khó, nhưng làm sao cho tượng phải có hồn mới là khó hơn nhiều”. Không gian sân chùa còn được cách điệu bởi những ngôi tháp nhỏ đặt nối tiếp nhau (biểu tượng của tháp chùa Đông Nam Á), cùng với chiếc cầu (dài hơn 4 mét) dẫn vào nơi đặt tượng Phật nằm, là nhịp cầu ý nghĩa kết nối giữa đời sống nhân loại với tính nhân bản về từ bi và trí tuệ của đạo Phật, giữa cõi trần thế với sự hướng thiện để đạt được an lạc và hạnh phúc… Sân chùa còn có các trụ đèn lớn nhỏ, đúc theo kiểu dáng Hàn Quốc.



Riêng cổng tam quan đang tiếp tục hoàn thiện theo mô hình “Hiển Lâm Cát” của Đại nội Huế, có 5 mái (tượng trưng cho ngũ phước) với 3 lối vào tượng trưng cho “tam bảo” (phật, pháp, tăng). Ngoài ra, tại chùa vẫn còn 4 cây sứ gần 100 năm tuổi và di tích ngôi “Sơn Hải Miếu” vẫn vẹn nguyên những pho tượng cổ từ buổi sơ khai của ngôi chùa.

Với những dấu ấn mang phong cách riêng, kiến trúc chùa Bửu Minh chính là sự tái tạo và phát triển có chọn lọc những giá trị văn hóa vật thể, góp phần điểm tô và khắc họa phong phú vào quần thể kiến trúc tôn giáo tại Gia Lai nói riêng và Tây Nguyên nói chung.

Theo Thanh Nhật (Báo Gia Lai)
Du lịch, GO!

Bảo Tàng Gia Lai


Đến Bảo tàng Gia Lai, khách tham quan sẽ được giới thiệu một cách khái quát về lịch sử vùng đất và con người Gia Lai trong một không gian có diện tích 1.200m2 , chia làm 6 phòng trưng bày gần 7.000 hiện vật gốc các loại. 
Bảo tàng còn là một công trình kiến trúc văn hóa lớn, nơi hội tụ các di sản văn hóa, lịch sử, là điểm đến để học tập, nghiên cứu khoa học của nhân dân trên địa bàn tỉnh Gia Lai và trong khu vực Tây Nguyên.

Bảo tàng Gia Lai nằm ngay bên quảng trường Đại Đoàn Kết, trung tâm Tp. Pleiku. 
Tiền thân của bảo tàng là Phòng Bảo tồn - Bảo tàng được thành lập ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975 để đáp ứng yêu cầu khai thác, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc của tỉnh Gia Lai. Đến năm 1989, Bảo tàng Gia Lai chính thức được thành lập với tư cách là một cơ quan văn hoá trong các thiết chế văn hoá trực thuộc Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Gia Lai.



< Gian chính của bảo tàng, nơi trưng bày hai bộ chiêng có giá trị lớn của người Gia Lai. 

Nằm trong khuôn khổ các hoạt động của Festival Cồng chiêng quốc tế năm 2009 diễn ra tại Gia Lai, công trình Bảo tàng Gia Lai đã thực sự được hoàn thiện để giới thiệu đến công chúng trong nước và quốc tế những tinh hoa văn hóa của các dân tộc cư trú trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt là hai tộc người bản địa Gia-rai và Ba-na như tín ngưỡng, phong tục tập quán, công cụ lao động sản xuất, trang phục, trang sức, nhạc khí… 



< Trống đồng An Thành. 

Đến bảo tàng, du khách còn đặc biệt ấn tượng khi ngay phía trước là bức phù điêu mô tả đời sống sinh hoạt thường nhật của đồng bào các dân tộc thiểu số và Tượng đài anh hùng Núp, một biểu tượng của sức chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ buôn làng của người Tây Nguyên. Dulichgo



< Ché Tuk mẹ con. 

Với việc phối hợp cùng các Viện Khảo cổ, Bảo tàng Gia Lai đã tiến hành khai quật 6 di chỉ khảo cổ thuộc văn hóa Biển Hồ - nền văn hóa của cư dân đầu tiên xây dựng văn minh trên cao nguyên, với tổng số 33 di chỉ được khảo sát trên vùng đất Gia Lai. Kết quả thu được là hàng ngàn hiện vật bao gồm công cụ lao động, vật dụng sinh hoạt, đồ trang sức… của người tiền sử ở hậu kỳ đá mới, sơ kỳ kim khí. Đặc biệt, tại di chỉ Ia Mơr (huyện Chư Prông), lần đầu tiên ở Gia Lai và cả Tây Nguyên, các nhà khảo cổ đã tìm thấy mộ chum có di cốt người tiền sử.



< Bộ sưu tập gùi của người Tây Nguyên. 



< Gian trưng bày các vật dụng tuyên truyền cách mạng. 

Hiện tại, trong tổng số gần 7.000 đầu hiện vật Bảo tàng Gia Lai đang trưng bày, có nhiều hiện vật có giá trị cao về văn hóa truyền thống như: Sưu tập cồng chiêng, sưu tập trống lớn có đường kính bình quân khoảng 1 mét của đồng bào dân tộc Jrai, Bahnar, sưu tập ché cổ quý hiếm. Bảo tàng cũng có nhiều hiện vật giá trị khác như: Trống đồng An Thành, phù điêu đá Chăm Pa, thuyền độc mộc, các mô hình nhà mồ, nhà sàn, những hình ảnh mô tả về lễ hội truyền thống về đời sống văn hoá tinh thần của người dân Tây Nguyên… Dulichgo



< Gian trưng bày vũ khí chiến đấu chống giặc ngoại xâm của các dân tộc Tây Nguyên. 

Ngoài ra, Bảo tàng Gia Lai còn trưng bày, giới thiệu những giá trị lịch sử trong suốt quá trình đấu tranh của người dân từ phong trào Tây Sơn; Làng kháng chiến Stơr của Anh hùng Núp; tái hiện ngôi nhà đón thư Bác Hồ gửi Đại hội Dân tộc thiểu số miền Nam... cho đến những hình ảnh chuyên đề về 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của quân, dân Gia Lai và quá trình phát triển đi lên của tỉnh Gia Lai từ ngày giải phóng đến nay.



< Các hiện vật được khai quật tại di chỉ Biển Hồ. 

Cùng với công tác nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê bảo quản, trưng bày mở cửa đón khách tham quan, Bảo tàng Gia Lai đã tiến hành khảo sát và xây dựng các hồ sơ khoa học đệ trình công nhận và xếp hạng các di tích lịch sử văn hóa, danh thắng trên địa bàn tỉnh. Dulichgo



< Tái hiện mô hình sinh hoạt văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên. 

Hiện có 13 di tích đã được công nhận và xếp hạng là di tích cấp quốc gia, 3 di tích cấp tỉnh. Ngoài ra, bảo tàng cũng đã khảo sát 30 di tích, địa điểm ghi dấu sự kiện lịch sử để tiến hành lập hồ sơ công nhận và xếp hạng 4 di tích lịch sử cấp tỉnh.



< Các em học sinh tìm hiểu văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thông qua các hiện vật được trưng bày tại bảo tàng. 

Bên cạnh các trưng bày cố định, thời gian qua Bảo tàng Gia Lai luôn tổ chức các triển lãm chuyên đề nhân kỷ niệm các sự kiện, ngày lễ lớn của tỉnh nhà và của cả nước được đông đảo quần chúng nhân dân đón nhận. Không những thế, Bảo tàng Gia Lai còn phối hợp với các từ bảo tàng trung ương đến địa phương và nhiều đơn vị ban, ngành trong tỉnh tổ chức các buổi trưng bày, triển lãm lưu động nhằm giao lưu, học hỏi và giới thiệu đặc trưng văn hóa Gia Lai đến với quần chúng nhân dân. Bảo tàng tỉnh Gia Lai cũng tham gia các đợt trưng bày, triển lãm Văn hoá dân tộc toàn quốc tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội; trưng bày lưu động tại nhiều địa phương trong tỉnh…/.

Theo Nguyễn Vũ Thành Đạt, Nguyễn Luân (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!

Những thác nước đẹp ở Gia Lai


Những thác như Phú Cường, chín tầng, Bàu Cạn, Lệ Kim của Gia Lai đều cao trên 40m và đều sở hữu những nét đẹp làm say lòng người.

Thác Phú Cường

Thác Phú Cường nằm trong khu vực mỏ đá Phú Cường, thuộc địa phận xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai; cách thị trấn Chư Sê khoảng 3km và cách Tp. Pleiku khoảng 45km về phía đông nam.

Thác Phú Cường chảy trên nền nham thạch của một ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động. Vào mùa mưa, thác hùng vĩ với cột nước trắng xoá cao 45m, rộng 35m tuôn ào ạt từ trên cao, trông như một cột nước khổng lồ. Vào mùa khô, dòng nước thu hẹp, trông như một dải lụa mềm buông lơi giữa trời.



< Lối đi xuống thác Phú Cường đông nghẹt khách trong ngày tết.

Những bậc thang dốc cùng cái nắng trưa tháng 3 ở Tây Nguyên có thể làm bạn xây xẩm mặt mày, nhưng chỉ cần bạn đặt chân tới bãi đá chân thác thôi là cảm giác mệt mỏi dường như biến mất.

Dòng nước của thác bắt nguồn từ trên núi rồi đổ xuống suối La Peet tung bọt trắng xóa và chảy ra sông Ayun - nơi có công trình thủy lợi Ayun Hạ với hồ chứa nước có diện tích rộng khoảng 3.700ha.

Nếu du khách xuôi theo dòng suối La Peet, du khách có thể ra tới sông Ayun; tại đây, du khách sẽ có dịp được dạo quanh hồ bằng thuyền để ngắm nhìn phong cảnh núi rừng Gia Lai, câu cá và giao lưu với người dân tộc Ba Na, Gia Rai sống quanh hồ.

Thác mang đậm nét của Tây Nguyên về địa hình và không khí, nên khi đến đây, ngoài việc chiêm ngưởng dòng thác, du khách còn được đắm mình trong làn hơi mát rượi, ngắm nhìn những tảng đá magma nhiều hình dạng, muôn hoa dại khoe sắc bên dòng nước...



Thác Lệ Kim

Thác Lệ Kim huộc địa phận xã Ia Tô, huyện Ia Grai, Gia Lai. Đây là một thắng cảnh đẹp cách trung tâm tâm huyện khoảng cách 15 km, cách Tp Pleiku 35km về phía Pô kô nằm ngay bên trục lộ 664 la Grai đi Đức Cơ. Thác với cột nước cao gần 30m dội xuống một hồ nước rộng, đứng phía dưới nhìn lên, hơi nước bay ta có cảm tưởng như những làn sương mù bao phủ.

Dòng chảy của thác Lệ Kim không rộng nhưng xô đẩy vào nhau, vỡ ra thành những hạt bé xíu. Dưới ánh mặt trời, những hạt nước ấy trông như những giọt nước mắt nhiều màu sắc. Dưới chân thác, một hồ rộng bị tách đôi bởi những hòn sỏi nhỏ tập trung thành cụm.



Nhìn từ xa, thác Lệ Kim giống như một chiếc khăn trắng tung bay giữa những khối đá xù xì. Khi đến gần, ngoài ấn tượng về dòng chảy, hang đá rộng lớn dưới chân thác mang đến cho du khách trải nghiệm về cuộc sống thời tiền sử.

Sau khi “sống thử” trong những hang đá mát lạnh, men theo đường mòn lên trên đỉnh thác, du khách sẽ cảm nhận được độ cao, sự nguy hiểm khi nhìn xuống dòng chảy tuôn ồ ạt dưới chân, hay thư giãn hoàn toàn khi dựa lưng vào gốc cây cổ thụ, thả mình trong sự yên tĩnh của núi rừng.

Thác Xung Khoeng

Nằm cách thị xã Pleiku 30 km về phía Tây Nam là thác Xung Khoeng hùng tráng, từ xa đã nghe thấy tiếng ầm ì, nước đổ từ trên cao 40m xuống như một dải lụa trắng ngần với mặt thác lớn, trải rộng, tương đối bằng phẳng. Trái với bức tranh dòng nước trắng xoá, nổi bật trên nền xám của đá, hai bên bờ của thác Xung Khoeng xanh ngát với những bụi cây cỏ mọc um tùm và đôi chỗ gồ cao các tán cây gỗ lớn, điều khiến thác thơ mộng và nên thơ.

Phía sau thác là nền trời xanh thẳm cao lồng lộng, nước đổ xuống uốn cong theo triền đá mềm mại, đập vào các tảng đá nổi lên trên mặt nước tung bọt trắng xoá. Những buổi sáng nắng đẹp, từng đám mây trắng như bông từ từ bay lên cao từ trên mặt thác gây cho cảm giác như mặt nước đang bốc khói.

Nước chảy len lỏi trong các khe đá, trên thảm cỏ xanh làm thành một vùng hồ nước trong vắt, sát với các vách đá xung quanh. Ngồi trên các tảng đá rêu phong phủ kín, ngửng nhìn lên cao, da trời xanh ngắt lồng lộng, gió thổi mát rượi, không gian tràn đầy hơi nước mơn man làn da, mắt nhìn dòng chảy và tai nghe tiếng trầm hùng đều đặn của nước xô vào vách đá. Âm thanh tưởng như không bao giờ dứt, như tiếng chuông, tiếng cồng, tiếng trống ở các bản làng đang vào ngày hội.

Thác Xung Khoeng là nơi nghỉ ngơi thú vị, ở đây bạn vừa được ngắm vẻ hùng tráng của thiên nhiên, vừa hít thở không khí trong lành khiến cho tâm hồn thư thái, tĩnh lặng.
Thác Xung Khoeng thuộc địa phận xã Ia Me, huyện Chư Prông, Gia Lai.




Thác Chín Tầng tại xã Ia Sao cách trung tâm huyện Ia Grai khoảng 16 km, cách TP. Pleiku khoảng 20 km, đường đi cơ bản đã được trải nhựa nên việc đi lại rất thuận lợi, dọc theo hai bên đường là những rẫy cà phê xanh ngút ngàn nằm thoai thoải bên các sườn đồi tạo nên một phong cảnh rất thơ mộng và hữu tình. Không khí nơi đây thật dễ chịu và trong lành làm cho  quãng đường đi dường như ngắn lại.

Thác chín tầng không cao mà trải dài và uốn lượn dọc theo những vách đá ghồ ghề và phân thành 9 tầng riêng biệt. Mỗi tầng cao từ 5- 10m, riêng 2 tầng cuối cùng độ cao khoảng 10-15m dựng đứng tạo nên dòng chảy mạnh, nước cuộn xoáy.



Xung quanh thác là hệ sinh thái rừng còn khá nguyên sơ, góp phần tạo nên vẻ đẹp hoang dã và hùng vĩ của thác. Đây là một điểm dã ngoại cuối tuần lý tưởng và thú vị cho những đôi nam nữ, học sinh – sinh viên, khách du lịch trong và ngoài tỉnh muốn khám phá và tìm hiểu vẻ đẹp hoang sơ , kì vĩ của thác cũng như của núi rừng Tây Nguyên.                                                                                         

Tuy không mang vẻ hùng vĩ của dòng nước buông thẳng từ trên cao, nhưng âm thanh do nước đập vào đá của thác không kém cạnh thác Phú Cường, Lệ Kim nên vẫn được xếp chung vào một nhóm. Nhìn từ bên hông, du khách có cảm giác thác như một cầu thang trải dài, phủ đầy nước. Còn nhìn từ trên cao, thác như một con rồng đang uốn mình, chuẩn bị tung vút lên bầu trời.



Thác Bàu Cạn

Thác Bầu Cạn thuộc xã Bàu Cạn, huyện Chư Prông, cách thành phố Pleiku khoảng 25km, một địa điểm được thanh niên trong tỉnh biết đến bởi vẻ đẹp tự nhiên, hoang sơ.

< Dòng thác trong mùa mưa.

Đặc biệt với lợi thế là nằm gần trung tâm thành phố, đường đi vào thác có địa hình đẹp, bằng phẳng, dọc hai bên đường là những hàng chè xanh mướt trải dài - đặc sản Trà Bầu Cạn đã trở thành thương hiệu nổi tiếng trong và ngoài nước.



< Và trong mùa kiệt.

Tuy nhiên, tham quan thác Bàu Cạn phải đi vào mùa mưa vì trong mùa khô thác chỉ còn lại vài rãnh nước nhỏ len lỏi trong khe đá chảy ra, lượng nước rất ít do ngọn núi cạnh thác (là rừng đầu nguồn) bị khai phá trồng lúa, làm nương rẫy, ở đầu thác bị chặn dòng làm thủy điện nhỏ và tưới cà phê. Dòng chảy của thác bấy giờ bị thu hẹp đến mức, du khách có thể nhìn rõ những gành đá của thác.

Vậy nhưng đến khoảng tháng 10 thì những dòng nước lớn trên thượng nguồn đổ về, gặp ghềnh đá, cuồn cuồn buông từ trên cao xuống, tạo nên "hòn núi nước" khổng lồ và hùng vĩ.

Du lịch, GO! Tổng hợp

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Chùa Bà Thiên Hậu (Vĩnh Châu-Sóc Trăng)


Thiên Hậu cổ miếu tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 1500m², nằm trên đường Trần Hưng Đạo, Thị xã Vĩnh Châu, cách trung tâm chợ khoảng 400m về hướng Đông – Nam, trên đường đi về xã Vĩnh Hải. Từ thành phố Sóc Trăng du khách có thể đi theo hướng tỉnh lộ 11 qua cầu Mỹ Thanh và đi thêm khoảng 18 km nữa là đến di tích.

Trước đây, Miếu được dựng với quy mô nhỏ bằng gỗ, tre, lá. Cho đến 1907 miếu được xây dựng lại khang trang bằng gạch, ngói và tồn tại cho đến ngày nay. Theo truyền khẩu, xưa kia nơi đặt miếu rất hoang vu, thanh vắng, nhà cửa dân cư thưa thớt.

Đến khi một số di dân người Hoa đến đây lập nghiệp, mang theo hình tượng nữ thần của những ngư dân và những người đi biển trong dòng họ. Để củng cố niềm tin, họ đã lập một ngôi miếu nhỏ thơ Bà với mong muốn bà phù trợ khi ra khơi đánh bắt hoặc giữ bình yên cho xóm làng, mùa màng thuận lợi.



< Chánh điện bên trong cổ miếu.

Bước chân qua cổng tường rào khang trang ta bắt gặp ngay một cặp Lân đá cao khoảng 1m ngồi trên bệ xi măng nhìn thẳng ra đường, chân trước mỗi con đặt trên một quả cầu trong tư thế đang ngồi canh giữ miếu.

Trên nóc miếu là hình tượng hai con rồng được dát bằng mảnh gốm sứ đang uốn lượn tranh một quả bầu tiên. Phía trước, hai bên bức vách của ngôi cổ miếu là hai phù điêu Thanh Long và Bạch Hổ được đắp nổi làm tăng thêm vẻ lộng lẫy ngay từ bên ngoài. Miếu được xây phân bố theo hình chữ tam, ba gian song song mái lợp ngói âm dương. Muốn vào trong điện ta phải qua một mái hiên trước có đôi cột đắp rồng uốn quanh thân, trên thanh xà dọc nối qua đầu cột các thợ người Hoa gắn hình tượng những động vật thủy sản cá tôm bằng gỗ thật khéo léo và sinh động.



< Cúng cuối năm ở chùa Bà Thiên Hậu (ngày 14/11 âm lịch).

Cửa điện gồm 3 ô theo dạng cổng tam quan, cửa chính giữa rộng gồm 2 cánh gỗ dày trên vẽ hình hai nhân vật Uất Trì Cung và Kính Đức. Hai cửa bên mỗi khung một cánh cũng là gỗ dày trên vẽ hình hai nhân vật điển tích mỗi bên. Bước vào bên trong điện, từ gian trước qua gian giữa cách một khoảng trống gọi là giếng trời có tác dụng lấy ánh sáng và làm thoáng mát không gian bên trong điện thờ. Gian đầu chỉ dựng hai bảng gỗ lớn ghi danh sách những người quyên góp trùng tu miếu, trên hai bức đầu hồi ta bắt gặp bức tranh tạc hình đắp nổi cảnh “Bát tiên quá hải” và đối diện là bức tranh đắp nổi hình hoa cảnh xinh tươi.

Gian giữa được sử dụng để đặt kim đỉnh lư hương. Gian trong cùng mới chính là nơi đặt ba khám thờ, ở giữa thờ Bà Thiên Hậu đang ngồi trên ngai có hai tiên nữ ngồi hầu hai bên, trước mặt hơi thấp hơn có 5 thần hộ vệ đứng chầu. Khám thờ bên phải đặt tượng thờ Quan Công, khám bên trái thờ các anh hùng liệt sĩ.
Trên các thanh xà ngang dưới mái ngói là các bức hoành phi sơn son thếp vàng trông thật lộng lẫy với những nội dung chúc cho quốc thái dân an, phù trợ đồng bào, đồng tâm hiệp lực làm việc ích nước lợi dân.

Trên viềm mỗi khám thờ nghệ nhân lắp phần cửa vòng trang trí hình hoa dây các loại, được thếp vàng lộng lẫy. Ngăn cách ở giữa ba khám thờ là hai bộ bát bửu bằng đồng vừa trang trí, vừa tạo lối đi riêng cho khách thập phương khi vào làm lễ.



< Nhạc lễ phục vụ cho đêm lễ hội.

Lễ hội vía Bà được tổ chức hàng năm vào ngày 23 tháng 3 âm lịch (ngày vía Bà), đây là một lễ hội lớn đối với đồng bào Hoa ở Vĩnh Châu. Trong ba ngày (22,23, 24/4 âm lịch) mọi người dâng lễ vật, khói hương để tưởng nhớ đến công ơn của Bà. Ngoài ra, trong lễ hội còn có những hoạt động khác như biểu diễn nghệ thuật hát Tiều của Đoàn Nghệ thuật Châu Quang, lễ Hội đấu đèn lồng, mặc dù giá trị vật chất không cao nhưng mua được đèn lồng là mua được: “Gia đình bình an”, “Tấn tài tấn lộc” và đó là tấm lòng “Lá lành đùm lá rách” từ Hội chùa đối với dân nghèo.



< Thiên Hậu cổ miếu nhìn từ bên ngoài.

Có thể nói, Miếu Bà Thiên Hậu hay chùa Bà Vĩnh Châu là một di tích kiến trúc độc đáo, một hình tượng tín ngưỡng đã lâu đời in sâu vào tâm trí của đồng bào người Hoa tại thị xã Vĩnh Châu. Miếu Bà là nơi họ trao gởi niềm tin vào sự phù trợ của Bà để người dân làm ăn phát đạt và gia đình luôn hòa thuận, yên ấm.

Miếu Bà Thiên Hậu vừa thể hiện được bản sắc văn hóa cội nguồn của dân tộc Hoa, vừa làm phong phú thêm đời sống tâm linh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vì vậy, Miếu Bà Thiên Hậu đã được UBND tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh vào ngày 03/6/2004.

Theo Nguyễn Dũng (Du lịch Sóc Trăng) + internet
Du lịch, GO!

Chùa Ông Bổn (Sóc Trăng)


Chùa Ông Bổn còn có tên gọi là chùa A Côn, hay Hòa An Hội Quán là một ngôi chùa cổ có tuổi đời trên 130 năm, tọa lạc số 09, đường Nguyễn Văn Trỗi, khóm 1, phường 1, TP Sóc Trăng. Đây là một di tích nghệ thuật kiến trúc - điêu khắc văn hóa độc đáo của cộng đồng người Hoa ở Sóc Trăng nói riêng và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Theo tài liệu của Ban quản trị chùa thì vào năm 1875, chùa Ông Bổn được xây dựng tại làng Khánh Hưng, tổng Nhiêu Khánh, tỉnh Sóc Trăng. Đến năm 1911 được trùng tu lần thứ nhất và đổi tên là Hòa An Hội Quán cho đến nay. Qua 7 lần trùng tu vào các năm 1953, 1969, 1987, 1990, 1994, 1999 có kiến tạo gia cố thêm, nhưng vẫn đảm bảo được hiện trạng cũ nên ngôi chùa mới khang trang như ngày nay.

Do chùa nằm trong trung tâm của tỉnh lỵ nên rất thuận tiện cho việc cúng bái, cũng như rất thuận lợi cho du khách đến tham quan dù bằng đường bộ hay đường thủy.

Chùa được cất theo hình chữ Phú - tượng trưng cho sự ấm no, phú quý. Chùa cất tuy không cao nhưng thoáng đãng, mang đậm màu sắc kiến trúc Trung Hoa. Sân chùa tuy không lớn nhưng sạch sẽ. Mái chùa lợp ngói ống phủ lớp rêu phong. Trên mái nóc có tượng lưỡng long chầu nguyệt - cách trang trí truyền thống trong các ngôi chùa Hoa. Trên các gờ mái cũng có tượng rồng, kỳ lân nằm trải dài. Phía trước mái hiên chùa có treo một dãy đèn lồng đỏ càng làm tôn vinh thêm vẻ đẹp rực rỡ của ngôi chùa.



Chùa Ông Bổn được xây dựng với chất liệu hoàn toàn bằng đá, gỗ quý từ Trung Quốc chở qua. Ngôi chùa có mặt tiền chính diện hướng về hướng Nam, hai bên tả hữu tô đá rửa được nghệ nhân đắp nổi bằng xi măng rộng khoảng một thước là hai đại tự Tăng Phước - ngụ ý chúc bà con bá tánh hưởng thêm nhiều phước lộc, tạo thêm vẻ bề thế cho ngôi chùa. Ngoài ra, ở bên hữu khuôn viên chùa còn có ngôi miếu nhỏ thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh tượng trưng cho thần thổ địa của địa phương.

Quan sát từ đỉnh hương lớn đặt giữa khuôn viên khá rộng của ngôi chùa, tổng thể kiến trúc di tích này có toàn bộ phần chân cột, đá xanh viền nền tam cấp trong khu vực nội thất đến khung cửa chính của ngôi chùa... đều được các nghệ nhân người Hoa đời trước tạc bằng đá tảng của Trung Quốc. Ngôi chùa được thợ xây dựng theo dạng phân kim tam cấp qua thước Lỗ Ban - theo hình chữ Phú - tượng trưng theo quan niệm của người Hoa.

Vào bên trong ngôi chùa, du khách sẽ choáng ngợp trước một “rừng” hoành phi câu đối bằng chữ Hán được treo và ốp cột từ gian tiền điện đến gian chính điện, với nội dung ca ngợi công đức của các vị thần. Phía bên trái (nhìn từ ngoài vào) là bàn thờ Bạch Hổ uy nghi, bên phải là bàn thờ của Thanh Long hùng dũng - đây vừa là yếu tố phong thủy, lại vừa là vật linh nhằm để trấn giữ tà ma, xua đi những điều xui xẻo, không hên. Gian chính điện gồm ba gian. Gian chính giữa thờ Trịnh Ân, tức Cảm thiên đại đế là vị phúc thần trong tâm thức của bà con người Hoa nơi đây.

Khác biệt với chùa Ông Bổn (Thanh Minh Cổ Miếu) tại thị xã Vĩnh Châu thờ ông Trịnh Hòa - vị quan triều Minh (thế kỷ 14, tương truyền ông là nhà hàng hải đã bôn ba buôn bán sản vật ở nhiều nước trên thế giới, ông được phong sắc thần “Bổn đầu công” được dân chúng sùng kính tôn thờ) thì chùa Ông Bổn ở Sóc Trăng thờ ông Trịnh Ân.

Tương truyền, Trịnh Ân là vị khai quốc công thần, văn võ song toàn, sống vào triều đại nhà Tống bên Trung Quốc. Ông có nhiều công lớn trong việc dạy dân bền chí làm ăn để khẩn hoang, lập ấp và khuyên mọi người phải biết giữ lễ nghĩa, giữ vẹn thuần phong mỹ tục. Do bị gian thần hãm hại nên ông bị triều đình khép vào tội chết. Lúc xử trảm ông, đất trời cảm động trút cơn mưa, điểm vần sắc hồng. Dân chúng thấy điềm trời như thế nên càng tỏ lòng thương tiếc và lập miếu thờ ông làm vị phúc thần. Chuyện này lan đến triều đình, làm vua tỉnh ngộ, thương cảm và phong sắc cho ông là Cảm thiên đại đế, tức lòng trung cảm động đến trời.

Bên trái gian chính điện là bàn thờ của Phúc Đức Chính Thần, bên phải là trang thờ của Thiên Hậu Thánh Mẫu. Trước gian chính điện còn có hai hàng bát bửu hai bên. Đặc biệt nét điêu khắc trong chùa đã đạt đến mức điêu luyện, thể hiện được nét tinh xảo, tài hoa của các nghệ nhân Trung Quốc đời trước. Tiêu biểu, các bức điêu khắc gỗ, hoành phi chạm trổ ba lớp, tượng thờ bằng gỗ, câu đối bằng gỗ quý, các tượng gỗ chạm trổ các linh vật: long, lân, quy, phụng, nai, hạc... đều thể hiện các điển tích cao quý mà các vua chúa ngày xưa thường dùng trang trí trong cung đình, như: lân hóa rồng, rồng hóa long dây lá, Bá Ngư chầu hoàng, Bá Ngư Điểu Chích... tất cả đều là các tác phẩm điêu khắc, hội họa đặc biệt quý hiếm thể hiện đúng theo khuôn mẫu bên Trung Quốc.

Ngoài ra, trong chùa còn có nhiều cổ vật quý hiếm khác là tượng gỗ thờ Ông Bổn, Ông Phước Đức, Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, sơn son thiếp vàng rực rỡ; bộ lư quỳ cổ hình thái tuế, ba bộ lư vuông, cặp hạc rùa ngậm hoa sen bằng kim loại màu... các bộ bàn thờ (quý tự) bằng gỗ quý đều được các nghệ nhân chạm khắc ba lớp và dát vàng rất tinh xảo.



Chùa Ông Bổn ở Sóc Trăng không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa ở đây, mà còn là nơi thu hút đông đảo bà con người Kinh, người Khmer cũng như khách thập phương đến đây tham quan cúng bái trong các dịp rằm, lễ tết, ngày vía Ông...

Bên cạnh đó, chùa Ông Bổn còn là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội đặc sắc của bà con người Hoa và thông qua đó đã tập hợp, đoàn kết mọi người cùng nhau đóng góp, gây quỹ làm công tác từ thiện... thể hiện truyền thống đoàn kết lâu đời của bà con người Hoa và các dân tộc Kinh, Khmer anh em.
Với những ý nghĩa trên, ngày 3-6-2004, chùa Ông Bổn đã được UBND tỉnh Sóc Trăng xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

Du lịch, GO! - Theo Trần Kiều Quang (báo Hậu Giang), ảnh sưu tầm từ internet

Bài đăng phổ biến