Hiển thị các bài đăng có nhãn Hải Dương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hải Dương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

Sân Golf Ngôi Sao Chí Linh (Hải Dương)

Sân Golf Ngôi sao Chí Linh: Sân golf Ngôi sao Chí Linh được mệnh danh là "sân golf thách thức nhất Việt Nam" và các tay golf chuyên nghiệp khó thể bỏ qua địa điểm thi đấu thú vị này.Giới thiệu về Sân Golf Ngôi sao Chí Linh nằm tại thị trấn Sao Đỏ, huyện Chí Linh, Hải Dương, cách Hà Nội 48km, trên đường tới vịnh Hạ Long.
Sân golf Chí Linh nằm ngay trên vị trí trung tâm tam giác phát triển kinh tế du lịch phía Bắc và được đánh giá là một sân golf hàng đầu, không chỉ tại Việt Nam mà cả vùng Đông Nam Á.
Ấn tượng đầu tiên về sân golf Chí Linh là sân rộng, diện tích 325 ha trong lòng một thung lũng tuyệt đẹp với một hồ nước tự nhiên nép mình bên những dải đồi xanh hùng vĩ bao quanh. Sân golf Ngôi Sao Chí Linh được xây dựng 36 lỗ theo tiêu chuẩn quốc tế AAA. Những thảm cỏ xanh được chăm sóc, xén tỉa mỗi ngày, những con đường nhỏ uốn mình vòng quanh mép hồ, các rặng cây, các dốc thoải ven đồi, là điểm dừng chân với những quán nhỏ đơn sơ nép mình trong tán cây thơ mộng...
Ẩn hiện trong khung cảnh thơ mộng ấy là 36 hố golf được bố trí khoa học với các bẫy cát kín đáo sẵn sàng "bẫy" ngay cả các tay golf chuyên nghiệp. Điểm cao nhất của sân golf Ngôi sao Chí Linh chính là nhà Câu lạc bộ. Tòa nhà tròn với thiết kế độc đáo, toàn bộ hệ thống cửa và tường bao được xây dựng bằng kính trong suốt cho phép du khách và khán giả có thể chiêm ngưỡng phần lớn diện tích sân với 28/36 hố golf.

Các lỗ golf được thiết kế rất thách thức, dựa vào địa hình đồi núi sẵn có của Chí Linh. Tay chơi golf nào thực sự có nghề và có bản lĩnh đều không muốn bỏ qua cơ hội thử sức ở đây bởi giải “Sân golf Thách thức nhất Việt Nam 2007” đã dành cho sân golf Chí Linh.

Địa chỉ liên hệ sân golf Chí Linh

Khách hàng chơi golf có thể liên hệ qua địa chỉ sau:

Quản lý chung: Mr. Bradley Leahey - Email: bradley@chilinhstargolf.com.vn

Giám đốc điều hành: Mr. Ben Styles - Email: pro@chilinhstargolf.com.vn

Văn phòng đại diện: DAEHA Office Tower, 507 - 360 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội - Tel: 84-4 771 9006, Fax: 84-4 771 9007

Địa chỉ sân: Sao Đỏ, Chí Linh, Hải Dương - Tel: 84-320-3585617 - Fax: 84-320-3585618

Và đây là một số hình ảnh của sân:
Địa chỉ: Sao Đỏ Thái Học Thị Xã Chí Linh, Hải Dương


Điện thoại: + 84 (320) 358 5617

Web: http://www.chilinhstargolf.com.vn




Đảo Cò Chi Lăng Nam (Hải Dương)

Khu danh thắng và Di tích Đào Cò, xã Chi Lăng Nam thuộc vùng hồ An Dương và hồ Triều Dương phía Bắc giáp xã Chi Lăng Bắc, phía Nam giáp xã Thanh Giang và Diên Hồng, phía Đông giáp khu dân cư xã Chi Lăng Nam, phía Tây giáp xã Nhật Quang, Tống Phan và xã Quang Hưng, huyện Phủ Cừ, tỉnh Hưng Yên. Là khu du lịch sinh thái nổi tiếng với đàn cò lên đến hàng vạn con bay lượn trắng toát một vùng trời.
Vào đầu thế kỷ 18, thiên tai, bão lũ gây ra, nên trong 3 năm, khu vực hồ An Dương vốn là một vùng đồng chiêm trũng bị vỡ đê liên tục, để lại lòng hồ rất sâu, khoảng 17-18 mét (với mực nước như bây giờ). 
Vùng đất nhô cao giữa mặt nước bao la hình thành nên 3 đảo. Đảo phía Đông là đảo lớn nhất, có diện tích hơn 8.000m2, đảo giữa có diện tích trên 3.000m2 và đảo còn lại là khoảng 7.000m2. Đảo cò là “ngôi nhà chung” của nhiều loài cò, vạc, chim nước . Hiện nay, Đảo Cò Chi Lăng Nam có khoảng 16.000 con cò và 6.000 con vạc sinh sống. Đảo Cò là nơi cư trú của 6 loài cò khác nhau như cò trắng, cò lửa, cò bợ, cò ghềnh, cò diệc và cò ruồi, trong đó đông nhất là cò ruồi. Tiếng là Đảo Cò song đây còn là nơi trú ngụ của loài vạc xám, vạc lưng xanh, vạc sao, cùng nhiều loài chim khác như diệc xám, chim trả, bói cá, bồng chanh, cuốc, cú mèo...
 
 
Khu danh lam thắng cảnh Đảo Cò Chi Lăng Nam nằm trên 2 thôn: An Dương và Triều Dương, có diện tích trên 67 héc ta. Hồ An Dương có diện tích mặt nước 90.377,5m2; hồ Triều Dương có diện tích mặt nước 43.890m2. Kênh nối giữa hồ An Dương và hồ Triều Dương dài 800m, chiều rộng trung bình là 8m, nơi hẹp nhất 4,5m. Mặt hồ An Dương rộng, nước xanh ngắt; lòng hồ có nơi sâu nhất đến 18m. Người dân địa phương cho biết chỗ sâu nhất ước chừng 40 sải tay người lớn (mỗi sải tay khoảng 1,6 - 1,7m. Đảo Cò, tâm điểm của 2 hồ là 2 đảo nhỏ với tổng diện tích 7.324,2 m2 (nằm trong Hồ An Dương): 01 đảo cũ  với diện tích 2,8 ha; một đảo mới hình thành từ khi di chuyển 7 hộ dân năm 2007 với diện tích 3,5 ha.
Năm 1995 - 1996, Trung tâm Tài nguyên Môi trường (Trường Đại học Quốc gia Hà Nội), kết hợp với Hội Môi trường tỉnh đã tổ chức điều tra và kết luận ở đây có 9 loại chim là Vạc, cò ruồi, có trắng, cò ngàng nhỡ, diệc xám, cò lửa, chim lặn, chim chả, bồng chanh, trong đó cò ruồi và vạc chiếm đa số và là loài chiếm ưu thế trên đảo, tuy nhiên lúc đó cò ruồi có khoảng 600 con, vạc có khoảng 200 con, hiện Đảo Cò có ít nhất là 34 loại chim, thuộc 10 bộ và 22  trong tổng số 828 loài chim đã thống kê được ở Việt Nam. Năm 2006, theo kết quả nghiên cứu của ông Ngô Xuân Tường - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cho biết: ở Đảo Cò Chi Lăng Nam có 24 loài, thuộc 15 họ, và 5 bộ. Chim có số lượng khá phong phú và đa dạng so với các vườn chim khác trong khu vực miền Bắc. Số lượng chim trên đảo lớn nhất vào tháng 12, trong đó số lượng khoảng 12.050 cá thể loài cò và 5.020 cá thể vạc. Tháng 4 và tháng 5 là thời gian quần thể chim trên đảo thấp nhất khoảng 8.000 cá thể. Đặc biệt có 6 loài làm tổ tập đoàn là cò trắng, cò bợ, cò ruồi, cò ngàng nhỏ, cò lửa và vạc.Các nhóm loài làm tổ hay không làm tổ, bay qua (ngủ lại) và thường gặp là các loài sống định cư chủ yếu với số lượng cá thể nhiều nhất tại Đảo Cò (đạt từ khoảng 12.000 đến 15 - 20.000 cá thể), gồm các loài Cò trắng nhỏ (Egretta garzetta) và Vạc (Nycticorax nycticorax), và kế tiếp là Cò bợ (Ardeola bacchus), Cò ruồi (Bubulcus ibis), và một số loài khác. Đây là các loài chim có đời sống liên quan mật thiết với môi trường nước (hay còn được gọi là các loài chim nước). Thường gặp chúng bay lượn và kiếm ăn theo đàn (từ vài chục đến hàng trăm ngàn cá thể), làm tổ tập đoàn trên cây (các loài cây giá thể ở Đảo Cò chủ yếu là tre gai, bạch đàn và keo hoa vàng).Các loài cò đi kiếm ăn vào ban ngày (từ sáng sớm đến chiều tối), Vạc kiếm ăn về ban đêm (từ lúc hoàng hôn đến sáng sớm hôm sau). Trong mùa sinh sản và nuôi con vào thời gian ban ngày mới có thể gặp chim bố mẹ lui tới trong khu vực làm tổ. Nơi kiếm ăn chủ yếu của các loài cò, vạc sinh sống và làm tổ trong Đảo Cò là các cách đồng lúa nước nằm cách xa Đảo Cò từ 1 đến 5 cây số.
Ngoài ra, trong Hồ An Dương với nguồn thủy sinh vật phong phú là môi trường sống lý tưởng của nhiều loài cá và thủy sinh vật, đặc biệt hồ có một số loài sinh vật có giá trị kinh tế cao như: rái cá, ba ba gai, cá ngạnh, cá viền, cá mòi, cá chuối hoa và cá măng kìm... thậm chí còn có loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam như: tổ đỉa, rái cá. Thảm thực vật quanh hồ chủ yếu là những cây bóng mát và làm nơi đỗ của cò như tre gai, chuối, nhãn, vải…Đặc biệt, hệ sinh thái phong phú này vẫn đang được bảo tồn gần như nguyên vẹn trong suốt thời gian qua, tạo giá trị cảnh quan, môi trường đẹp đẽ, xanh tươi thích hợp cho nghiên cứu và du lịch sinh thái.Chính vì vậy, từ lâu, nơi đây đã trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của tỉnh Hải Dương, đã thu hút sự chú ý bởi đông đảo du khách trong nước và quốc tế, được Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương phê duyệt quy hoạch xây dựng khu du lịch sinh thái tại quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 06/01/2009, với tổng diện tích quy hoạch là 67,1 ha.
Hàng năm khu du lịch Đảo Cò thu hút trên 100 nghìn lượt du khách đến tham quan, sưu tầm tư liệu, hình ảnh sinh động của Đảo Cò để bổ trợ cho học tập, nghiên cứu và giảng dạy ở các cấp, bậc học trong nước và quốc tế.  Nhiều nhà khoa học nhận định giá trị sinh thái của Đảo Cò, đã khẳng định đây là khu dự trữ thiên nhiên có mức độ đa dạng sinh học lớn và được bảo tồn gần như nguyên vẹn duy nhất ở miền Bắc. Nhiều địa điểm khác cũng có cò về sinh sống, nhưng việc bảo tồn luôn gặp rất nhiều khó khăn; ngược lại, Đảo Cò Chi Lăng Nam lại được người dân nơi đây tự nguyện bảo vệ nghiêm ngặt. Nhờ đó, hệ sinh thái quanh hồ luôn được giữ ở mức độ ổn định, tạo điều kiện cho các loài sinh vật tiếp tục kéo nhau về làm tổ, bổ sung thêm mức độ đa dạng sinh học vốn đã rất phong phú. Giá trị sinh học của Đảo Cò không chỉ nằm ở những sản phẩm khai thác được như trứng, cá, thịt, các loại rau…mà chủ yếu ở cảnh quan, môi trường, tái tạo và bảo vệ đất, nguồn nước, phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái.
Ngày 8/7/2014 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyết định số 2104/QĐ - BVHTTDL công nhận di tích quốc gia đối với danh lam thắng cảnh Đảo Cò. Qua đó nhằm mục đích phát huy giá trị di sản văn hoá vì lợi ích của cộng đồng và toàn thể xã hội, góp phần quan trọng cho sự phát triển ngành du lịch của huyện Thanh Miện nói riêng và của tỉnh Hải Dương nói chung.
Sáng ngày 16/11/2014, huyện Thanh Miện (Hải Dương) đã long trọng tổ chức lễ đón bằng công nhận di tích danh lam thắng cảnh quốc gia Đảo Cò thuộc xã Chi Lăng Nam.
Hải Ninh

Chùa Côn Sơn (Hải Dương)


Chùa cổ Côn Sơn nằm trên núi Côn Sơn thuộc phường Cộng Hòa, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, là một trong những điểm du lịch tâm linh hấp dẫn trong quần thể di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc.

Chùa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam xếp hạng quốc gia đợt I năm 1962 và xếp hạng đặc biệt quan trọng vào năm 1994.

Chùa Côn Sơn còn có tên gọi là Thiên Tư Phúc tự hay chùa Hun, được xây dựng từ thế kỷ X và hoàn thiện vào thế kỷ thứ XIV. Chùa Côn Sơn trở thành một trong 3 trung tâm nổi tiếng của dòng Phật giáo Trúc Lâm, nơi 3 vị tổ của trường phái Thiền Phái Trúc Lâm gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Trang đã tu hành và thuyết pháp tại đây.



Chùa Côn Sơn xưa là một công trình kiến trúc hoàn thiện, có 385 pho tượng.

Tương truyền ở ban thờ đầu hồi phía Đông nhà Tổ có 2 pho tượng nhỏ ngồi xếp bằng, một đàn ông, một đàn bà hướng về bàn thờ Phật. Tăng ni tu ở chùa Côn sơn không biết hai pho tượng đó là ai và có tự bao giờ. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, sợ giặc đến chùa tàn phá, các tăng ni Phật tử dã đem đồ thờ và các pho tượng nhỏ cất giấu ở trong núi.



Vào một đêm mưa gió sấm sét to, sư ông trụ trì chùa ngủ không yên, đợi sáng hôm sau trời tạnh vào thăm lại bức tượng. Sư ông vào xem và thấy hai pho tượng trên đắp bằng đất bị mưa làm vỡ, lộ hai dải yểm tâm mới biết đó là tượng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ.

Phía sau chùa Côn Sơn là khu mộ tháp. Đăng Minh bảo tháp được dựng bằng đá xanh, cao 3 tầng, trong đặt xá lợi và tượng Thiền sư Huyền Quang.



Nằm ở sườn núi Kỳ Lân, bên phải là lối lên Bàn Cờ Tiên, dưới chân Đăng Minh bảo tháp là Giếng Ngọc. Người xưa cho rằng Giếng Ngọc chính là mắt của con Kỳ Lân. Giếng Ngọc cũng có thời gian bị cỏ cây che lấp. Năm 1995, ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đã cho khơi lại, kè đá, xây bờ, lát sân để phục vụ cho du khách về tham quan Côn Sơn lại được tận hưởng nước giếng thiêng.

Tại Bàn Cờ Tiên trên đỉnh núi Côn Sơn, nơi đây ngày xưa có một am nhỏ hình chữ Công (I), tám mái chảy, có lan can xung quanh. Am này có tên là Am Bạch Vân.



Chùa Côn Sơn đã chứng kiến một chặng đường đời và bi kịch của người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi. Sau những năm tham gia triều chính, Nguyễn Trãi lui về Côn Sơn và sống cuộc dời ẩn dật. Cảnh đẹp Côn Sơn đã gợi nên cảm hứng để Nguyễn Trãi sáng tác nhiều bài thơ trong Quốc Âm thi tập:

Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.



Trải qua thăng trầm lịch sử , ngày nay chùa Côn Sơn vẫn còn giữ dấu tích của kiến trúc thế kỷ XIV-XIX, vẫn tầng tầng lớp lớp theo lối cung đình: Hồ Bán nguyệt, tam quan, lầu chuông, vườn tháp, giếng Ngọc, am Bạch Vân, miếu thờ “Tứ độc Sơn Xuyên” (trời đất sông núi) trên Ngũ Nhạc linh từ.

Những cây đại, cây thông cổ thụ trong khuôn viên chùa cũng như rừng thông xung quanh càng tăng vẻ đẹp cổ kính pha chút u tịch cho ngôi chùa.



Hệ thống tượng thờ ở chùa khá phong phú, thể hiện thế giới Phật giáo thu nhỏ với ý nghĩa triết lý nhân sinh, giáo dục hướng thiện khai tâm cho chúng sinh. Hiện nay, chùa Côn Sơn còn lưu giữ hệ thống giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú như hệ thống văn bia từ thế kỷ XIV tới thế kỷ XVIII, đặc biệt là tấm bia Thanh Hư Động tạo thời Long Khánh (1373-1377) là bút tích của vua Trần Nghệ Tông; tấm bia “Côn Sơn Tư Phúc tự bi” (1607), ngói mũi hài, chân đá tảng chạm cánh sen đời Trần.

Hàng năm, lễ hội mùa xuân của chùa Côn Sơn diễn ra với nhiều nghi thức truyền thống như lễ khai hội, lễ cúng đàn Mông Sơn, lễ tế trời đất trên Ngũ Nhạc linh từ, lễ rước nước cùng nhiều trò chơi dân gian như đu tiên, chọi gà, cờ người, đấu vật…

Ngoài chùa Côn Sơn, du khách còn có cơ hội tham quan các khu di tích khác như khu di tích Kiếp Bạc, đền thờ Nguyễn Trãi trong quần thể di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc - một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam.

Trải qua hơn nghìn năm tồn tại và phát triển, ngày nay, nhân dân trong và ngoài nước vẫn về với Côn Sơn trẩy hội, chiêm bái các vị danh nhân và tìm về chốn thanh tịnh, hướng thiện. Về với chùa Côn Sơn là về với điểm du lịch tâm linh hướng về nguồn cội đất nước.

Du lịch, GO! tổng hợp

Đền Côn Sơn Kiếp Bạc (Hải Dương)


Phong cảnh hữu tình của Kiếp Bạc cũng làm say đắm bao du khách đến đây. Đi thuyền trên sông Phả Lại sẽ được ngắm toàn bộ cảnh quan nơi này. Du khách còn được xem phim, xem kịch, xem chèo có nội dung gắn với lễ hội hoặc chứng kiến tận mắt những chiếc cọc đã từng đâm thủng chiếc thuyền của tướng Ô Mã Nhi hay sơ đồ những trận đánh của Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn trong bảo tàng trưng bày truyền thống của quân dân nhà Trần…
Kiếp Bạc là tên ghép của hai vùng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng Bạc). Đền được xây dựng từ năm Canh Tý (1300). Qua nhiều thế kỷ, các công trình kiến trúc ở Kiếp Bạc từ thời Trần và thời Lê đã bị hủy hoại. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khu đền được trùng tu, tôn tạo.



Khu vực đền Kiếp Bạc nằm gần Lục Đầu Giang, là nơi tụ hội của sáu con sông: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và nhánh chính của sông Thái Bình.
Dulichgo
Một số người theo thuyết phong thủy cho rằng đây chính là nơi tụ khí để gây dựng cơ nghiệp. Theo đường bộ, đền Kiếp Bạc cách Hà Nội khoảng 80 km (50 dặm) đi theo đường quốc lộ số 1 đến Bắc Ninh rẽ sang đường quốc lộ số 18 và cách chùa Côn Sơn khoảng 5 km (3 dặm).



Cổng đền uy nghi bề thế với bức đại tự trên tam quan “Dĩ thiên vô cực” (Sự nghiệp này còn mãi với trời đất), hàng chữ bên dưới là “Trần Hưng Đạo Vương từ”.

Qua cổng tam quan là vào một sân rộng tục truyền là “Bãi Kiếm”, là nơi xét xử Phạm Nhan, tên tướng giặc có nhiều bùa phép gian ngoa. Hai bên sân là 2 dãy nhà dài, để khách thập phương dừng chân sửa soạn mâm lễ vật.

Nhà đại bái phía trong ở giữa đặt bàn thờ lớn, 2 bên là 4 ngai thờ 4 người con trai của Trần Quốc Tuấn là Trần Quốc Hiếu (Hiện), Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Uy (Uất).



Bên trong hậu cung có 3 toà điện: tòa điện ngoài cùng thờ Phạm Ngũ Lão, tòa điện thứ hai thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, tòa điện trong cùng thờ phu nhân Trần Quốc Tuấn là công chúa Thiên Thành và hai con gái được gọi là Nhị vị Vương cô.
Dulichgo
Trong đền hiện còn 7 pho tượng bằng đồng: Tượng Trần Quốc Tuấn, phu nhân, 2 con gái, con rể là Phạm Ngũ Lão, Nam Tào, Bắc Đẩu và 4 bài vị thờ các con trai của ông cùng 2 gia tướng là Yết Kiêu và Dã Tượng.



Lễ hội xưa bắt đầu từ ngày 16/8 đến ngày 20/8 âm lịch hằng năm. Nay đã khác, hội bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn, tuy nhiên trọng hội vẫn là ngày 18 tháng 8. Khách không chỉ đến Kiếp Bạc vào ngày hội mà quanh năm suốt tháng với số lượng ngày càng đông. Đền Kiếp Bạc còn ngày lễ trọng thứ hai vào 28/9, ngày mất của Thiên Thành công chúa-phu nhân của Đại vương, nhưng ngày này không thành hội , chỉ có hai làng sở tại tổ chức tế lễ cùng vài đoàn khách xa.

Phần lễ: Ngày 10 tháng 8 làm lễ mở cửa đền, chuẩn bị cho lễ hội hằng năm, đây là môt việc làm chiếu lệ, thực tế thì đền ngày nào cũng mở cửa tiếp khách.



Lễ vật khai hội: Làng Vạn sắm 8 mâm, mỗi mâm một lợn sống khoảng 70-80kg, đại diện cho 8 giáp. Dược Sơn 4 mâm tương tự, đại diện cho 4 giáp. Về bánh trái có: Bánh trong, bánh bột lọc, bánh chằng gừng, bánh rán, bánh phu thê, xôi mầu và mâm ngũ quả.
Dulichgo
Trên đây là lễ vật của hai xã sở tại theo lệ, còn lễ vật của khách thập phương, quan lại các cấp thì có thể nói, cuộc sống đương đại có gì quý báu thì trên mâm lễ có thứ đó. Riêng dân chài lưới ở vùng duyên hải về hội, thường có lợn quay hay lợn sống để cả con, tế lễ xong mang xuống thuyền làm cỗ, ăn dần trong những ngày hội.

Ngoài ra, tại đền Kiếp Bạc vào năm 2006, chính quyền chính thức công nhận hình thức sinh hoạt tín ngưỡng lên đồng. Những người theo tín ngưỡng lên đồng thờ Thánh Trần được gọi là Thanh Đồng. Hiện nay lên đồng Trần Triều diễn ra thường xuyên tại đền Kiếp Bạc.

Du lịch, GO!

Bài đăng phổ biến