Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguồn Gốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguồn Gốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

Phố Ông Đồ (Hà Nội)


Nằm khép mình bên cạnh Văn Miếu Quốc Tử Giám, “phố ông Đồ” là một danh xưng ra đời từ năm 2009. 

< "Ông đồ" Lê Quang Thản đang cho chữ tại  "Phố Ông đồ" Hà Nội

Sau gần 3 năm đi vào hoạt động quy củ, “phố ông Đồ” đã trở thành một địa chỉ văn hóa tin cậy của người dân Hà Nội và các du khách thập phương khi đến với “Tết Thăng Long”.



< Sư Thầy Thích Nguyên Đạo (Chùa Thiên Tôn - Quận 5, TP Hồ Chí Minh) vui vẻ trò chuyện với các bạn trẻ, đây là năm đầu tiên sư thầy ăn tết tại Hà Nội, “tôi muốn khám phá cái lõi văn hóa của Hà Nội trong những ngày tết”, Thầy Thích Nguyên Đạo cho biết thêm.



< Bên cạnh những nét thư pháp tiếng Việt, để đáp ứng nhu cầu của các du khách ngọai quốc, một số “Ông đồ” còn sáng tạo ra những nét thư pháp bằng tiếng Anh.



< Mực tàu, bút nghiên, những dụng cụ không thể thiếu được đối với các “Ông đồ”.

Cả một con phố dài chưa đầy 1km,  những “ông đồ”, “bà đồ” già, trẻ  với những trang phục xưa, áo the khắn xếp đang rón rén đưa những đường bút thăng hoa tặng những người dân với những lời chúc: “phúc”, “lộc”, “thọ”, “an”…



< Những câu đối đỏ được sắp xếp ngay ngắn trên bờ tường của Văn Miếu Quốc Từ Giám.

Không chỉ có con cái xin chữ để kính tặng cha mẹ mà ngay cả những ông bố bà mẹ cũng đến xin ông đồ chữ để tặng cho con mình với mong muốn con cái sống tốt hơn.



< “Ông đồ” Nguyễn Thế Sùng đang được một người bạn nhờ đặt viết chữ thư pháp ngày tết qua điện thoại.

Người người xin chữ, nhà nhà xin chữ khiến phố ông đồ trở nên tấp nập.



< “Chúng tôi không đặt nặng vấn đề thương mại, được ngồi đây và cho chữ cầu bình an cho mọi người là điều hạnh phúc nhất” Thư pháp gia Lại An Khánh (60 tuổi) cho biết.



< Một du khách nước ngoài cảm thấy thích thú khi được thư pháp gia Kiều Quốc Khánh cho chữ cầu an.

“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.”


< Một bạn trẻ cảm thấy hào hứng khi được cụ đồ Cung Khắc Lược cho chữ và phân tích ý nghĩa của chữ “Phúc” một chữ được nhiều người xin vào những ngày tết.

Bên cạnh những nét thư pháp điêu luyện, tiến sĩ hán học Cung Khắc Lược còn nổi tiếng về sự thông thái và sâu sắc về văn hóa, chính  bởi vậy nơi ông ngồi luôn có rất nhiều người đến xin chữ.




Còn tại TPHCM thì sao? Như mọi năm, CLB Thư pháp chữ Việt (thuộc Cung Văn hóa lao động TP HCM) lại mở ra một đoạn phố ông đồ ngay trước mặt tiền Cung văn hóa lao động với mục đích giao lưu cũng như bán và viết tặng chữ cho người dân dịp Tết Nhâm Thìn.

Thành phố vào những độ cận Tết, các ông đồ lại bày chõng tre, chiếu cói, bút nghiên… ngay bên đường để xây đắp sức mạnh tinh thần và cái đẹp mang tính nhân văn cao cả cho tâm hồn con người.



< Bên cạnh sự có mặt của các "ông đồ" già, đã nhiều năm múa bút mài mực...

Người người xin chữ, nhà nhà xin chữ khiến phố ông đồ trở nên tấp nập. Nhưng đông đúc nhất có lẽ là thời điểm về đêm khi các ông đồ đã lên đèn bởi lẽ đó là lúc mọi cộng việc bộn bề đã trôi qua, mọi người có thời gian để dạo phố và tìm về nguồn cội.



Nghiêng mình nhìn theo “những nét như rồng múa phượng bay” từ bàn tay điêu luyện của thầy đồ, anh Hà Mạnh Tuấn ngụ tại quận 1 cho biết: “Năm nay tôi xin thầy chữ “công thành danh toại” để tự nhắc mình trong năm mới phải cố gắng bươn chải mà vươn lên cho thành đạt. Phần khác tôi cũng xin chữ về để biếu cha mẹ xem đó như món quà tinh thần kính chúc sức khỏe của các cụ nhân dịp đầu xuân năm mới.



< Thì nơi đây cũng không thiếu những tay "chơi chữ" trẻ.

Có lẽ cũng với suy nghĩ đó nên những năm qua phố ông đồ mỗi ngày một thêm đông đúc. Và những người của “muôn năm cũ” vẫn mang cái tài hoa nghệ sỹ của mình để góp thêm niềm vui cho mọi nhà mỗi độ hoa mai hoa đào nở.

Dù đã là lần thứ 4 được tổ chức, thế nhưng hoạt động nhiều ý nghĩa này vẫn được đông đảo giới mê "chữ" của CLB ủng hộ nhiệt tình. Đoạn đường dài chưa đầy trăm mét bỗng chốc trở nên vô cùng náo nhiệt với hơn 20 sạp tre được kê cạnh nhau san sát.

Thành phần các "ông đồ" góp mặt nơi đây cũng rất đa dạng. Già có, trẻ có, nam có mà nữ cũng có. Một vài người trong số họ là những bậc tiền bối kỳ cựu, đã có hàng chục năm múa bút mài mực. Phần đông còn lại tương đối trẻ, thậm chí có người còn đang đi học. Tuy nhiên, chẳng vì thể mà giữa họ có sự phân biệt. Đến đây, tất cả đều là ông đồ, đều được thỏa niềm đam mê của mình với thư pháp.



< Nét bút khai xuân của một "ông đồ" trẻ.

So với phố ông đồ đã tồn tại nhiều năm bên hông Văn Miếu ở Hà Nội thì nơi đây không có được cái vẻ trầm mặc và cổ kính.



< Không "vẽ" chữ, một vài tay họa sĩ ký họa lại tranh thủ đến đây để kiếm thêm.



< Đôi bạn trẻ đi tìm chữ ngày xuân.



< Nét đẹp trong văn hóa xin chữ là đây.

Thay vào đó, người ta lại có thể dễ dàng cảm nhận thấy một không

khí rất trẻ trung, năng động. Và dù trẻ trung, năng động là vậy, thế nhưng vẫn không làm mất đi những giá trị xưa cũ, đó chính là nét đặc biệt của phố ông đồ giữa lòng thành phố mang tên Bác.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Tuoitre, Dantri, Vietnamnet.

Phố ăn đêm ở Hà Nội


Khi ánh đèn đường vàng vọt, màn đêm đã buông xuống, không khó để tìm một chỗ ăn đêm tấp nập ở Hà Nội như phố Cấm Chỉ, Lãn Ông hay Cầu Gỗ.

Phở Hà Nội thì đâu cũng ngon, bất kể ở ven đô hay trung tâm thành phố. Muốn ăn một bát phở đêm ngon có lẽ không đâu bằng những quán phở ở các khu phố cổ. Đó là phở Mậu Dịch phố Lý Quốc Sư, phở Tự Do phố Cầu Gỗ, phở Thìn Lò Đúc, phở ngã từ Hàng Đồng và Hàng Mã, ăn thật muộn thì đến Hàng Buồm hay phở đường tàu trên Trần Quang Khải.

Một số món ăn đêm rẻ, ngon và dễ ăn như: bún bò, bún măng ngan, cháo gà… ở khu Cửa Nam, ga Trần Quý Cáp, phố Hai Bà Trưng hay ngõ Tô Hoàng.



Bạn không nên bỏ qua phố ẩm thực Cấm Chỉ. Tô cháo và với tiêu, ớt bột cùng hành hoa sẽ làm ấm lòng người giữa đêm khuya. Cơm rang thập cẩm ở phố này, phố Mã Mây và phố Hàng Dầu cũng rất ngon. Trong số các món ăn đêm của Hà Nội, hầu như ai cũng muốn thử món nộm bò khô ở phố Hồ Hoàn Kiếm. Một chút đu đủ, cà rốt nạo, thịt bò khô cắt mỏng như sợi tăm chan dấm, rắc thêm ít kinh giới và lạc rang giã nhỏ thì ngon tuyệt mà giá cả lại rất bình dân.

Ở đầu phố Hàng Gai và Lương Văn Can có tới gần 20 hàng mực nướng. Đám 5-7 người mua vài con mực nho nhỏ, một chai rượu là có thể lai rai cho tới sáng. Mấy quán chân gà nướng, gà luộc ở phố Hàng Dầu, Mai Hắc Đế thì đông khách quanh năm.



Dọc phố Lãn Ông, phố Cầu Gỗ, nào bún thang, nào phở trộn, nào mì vằn thắn và cả bánh mì patê thơm thơm, giòn giòn. Trong góc phố Gầm Cầu ngào ngạt lòng nướng, bò nướng. Nếu không lên Phó Đức Chính cũng ăn được món bò nướng thơm ngon. Ăn rồi, chạy đến ngõ Tạm Thương ăn nem chua rán, qua Tô Tịch làm ly hoa quả dầm hay leo Hàng Than làm cốc caramen béo ngậy, ghé qua đầu phố ăn bát bánh trôi tàu nóng hổi.

Hà Nội về đêm còn có các món quà vặt dân dã đã được bán theo mùa như ngô nếp nướng, ốc luộc, quẩy nóng, bánh chuối… Lang thang những con phố Hà Nội trong đêm thu và nhâm nhi chút hương vị riêng trong ẩm thực Hà Nội là một trong những điều thú vị nhất khi đến với mảnh đất nghìn năm văn hiến này.

Theo Lam Linh (VnExpress)
Du lịch, GO!

Một ngày cho người lần đầu đến Hà Nội


Đến Hà Nội trong một chuyến công tác, chỉ có thời gian rất ngắn cho bản thân, vẫn có thể có những trải nghiệm thú vị về một chuyến đi trọn vẹn.

Hà Nội sáng sớm đã tấp nập, đây cũng là thiên đường quà sáng với rất nhiều món ăn cho bạn lựa chọn. Nếu vội, có thể mua gói xôi xéo ở vỉa hè, thong thả hơn thì ghé một quán phở ngon, hoặc tìm gánh bún riêu với giá 25.000-35.000 đồng một bát.
Sau đó, những danh thắng, di tích nổi tiếng ở thủ đô sẽ là điểm đến không thể bỏ qua với bất kỳ ai lần đầu đến Hà Nội. Lăng Bác buổi sớm có không khí yên bình xen lẫn trầm mặc, lưu ý thứ 2 và thứ 6 không đón khách vào lăng viếng. Chùa Một Cột, bảo tàng Hồ Chí Minh cũng như quang cảnh toàn bộ khu di tích vừa cổ kính vừa thơ mộng.



Cũng nằm trong địa phận quận Ba Đình là di tích Hoàng thành Thăng Long và Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ở những nơi này bạn có thể tìm hiểu về lịch sử, văn hóa giữa không gian cổ kính của mái ngói trầm mặc và hàng cây cổ thụ.

Bạn sẽ khá phân vân trước rất nhiều món ăn trưa hấp dẫn của Hà Nội. Đó là suất bún chả thơm mùi thịt nướng ở Hàng Mành, mẹt bún đậu ngon ở ngõ Tràng Tiền hay bát bánh đa cua, miến trộn, bún riêu... ở phố Hòe Nhai.

Bạn cũng nên dành trọn vẹn buổi chiều cho quận Hoàn Kiếm. Lang thang dọc Hồ Gươm để thu vào tầm mắt một Hà Nội rất thân quen, với những cây lộc vừng trổ hoa đỏ, vài nhành liễu lơ thơ mặt hồ, cầu Thê Húc vẫn đỏ son tự thuở nào, xa xa là Tháp Rùa cổ kính soi bóng mặt hồ xanh lơ. Mỏi chân thì ghé mua một cây kem để thấy ngày hè Hà Nội thật thú vị.



Phố cổ Hà Nội líu ríu những bước chân với những con phố ngắn đâm ngang dọc như bàn cờ. Khi chân đã mỏi, tìm ngay đến một điểm dừng chân thú vị: phố Tạ Hiện, được gọi là Phố Tây bởi thu hút rất đông du khách nước ngoài. Gọi vài ly bia mát lạnh, thêm đĩa lạc luộc, gói nem Phùng, đĩa nem chua rán, thế là có một cuộc vui với những người ưa xê dịch đến từ khắp mọi nơi.

Buổi tối, cầu Long Biên lộng gió gọi mời. Đứng ở đây ngắm được cả trung tâm Hà Nội sôi động và vùng ngoại ô ngăn cách bằng dòng sông Hồng trĩu nặng phù sa. Đói bụng, tìm đến Ngũ Xá thưởng thức món phở cuốn trứ danh, tiện thể ngắm nhìn Hồ Tây mờ ảo khi thành phố lên đèn.



Hà Nội về khuya dành cho những người thích tìm góc riêng, đó là khu Nhà hát lớn - nơi khởi đầu của những nhóm phượt đêm Hà Nội, hay tìm đến phố ẩm thực Tống Duy Tân, ngõ Cấm Chỉ chọn một bàn và nhâm nhi những món ăn cho thỏa lòng khi khám phá ẩm thực thủ đô. Nếu vẫn còn sức, điểm đến tiếp theo là chợ hoa Quảng Bá họp từ đêm đến rạng sáng hôm sau với muôn vàn các loại hoa tươi để cảm nhận nhịp sống khác của thành phố sầm uất này.

Kết thúc một ngày, rời Hà Nội, lại thấy chợt lưu luyến vài vệt nắng chiều ở Hồ Gươm và những gánh hàng rong miệt mài các con phố.



Lưu ý:

- Nên mượn hoặc thuê xe máy và cầm theo bản đồ du lịch để chuyến trải nghiệm Hà Nội được suôn sẻ. Xe buýt ở Hà Nội hầu hết hoạt động từ 5h30 đến 22h30 hàng ngày, rất thuận tiện cho bạn đi mọi nẻo đường.
- Du lịch Hà Nội vào mùa hè nên chọn trang phục gọn nhẹ, thấm mồ hôi vì thời tiết mùa này rất nóng bức.


Theo Thanh Tuyết (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Những nơi ăn vặt đông khách ở Hà Nội


Không hiện diện ngoài mặt phố, cũng không cần quảng cáo rầm rộ, những quán ăn dưới đây vẫn thu hút lượng thực khách mà bất cứ quán nào cũng phải mơ ước. Giá có thể rẻ hay cao nhưng nếu đến thưởng thức một lần, bạn sẽ thấy xứng đáng đồng tiền bát gạo.

1. Chè 72 Trần Hưng Đạo

Quán chè thập cẩm ở ngõ 72 Trần Hưng Đạo có tuổi đời gần 40 năm (1976), đã truyền được 3 đời. Một cốc chè ở đây có giá... 35 nghìn đồng, có thể nói là đắt nhất Hà Nội hiện nay. Tuy nhiên, có thể nói chè Trần Hưng Đạo đắt nhưng "xắt ra miếng".



Chè thập cẩm gồm 17 loại hoa quả như mít, nhãn, mãng cầu, trân trâu nhân sô cô la, trân châu nhân nho, nước cốt dừa... Bên cạnh đó, cửa hàng cũng phục vụ trà hoa nhài miễn phí và có thêm món bánh mì thịt quay độc đáo với giá 20 nghìn đồng/chiếc.

Giá khá cao, nhưng những hương vị trong cốc chè thập cẩm nơi đây đúng là khác biệt, không có ở bất kỳ quán chè nào ở Hà Nội.



2. Chè Bobochacha, ngõ 92 Cửa Bắc

Cách đây khoảng chục năm, quán chè bobochacha thực ra cũng nằm ở vị trí "đắc địa" ngay đầu một ngõ lớn (ngõ 92) trên phố Cửa Bắc. Hồi đó, quán chè này kết hợp với tiệm thịt xiên nướng bên cạnh đã rất được lòng các khách xì tin. Nhưng không hiểu vì lí do gì, hai nhà bỗng nhiên trở mặt, nảy sinh tranh chấp rồi quán chè bị chuyển tít vào trong ngõ.



Dù đi bộ không xa hơn mấy nhưng khách vẫn phải mất đôi lần rẽ nữa và nhìn biển chỉ dẫn thì mới tìm lại được quán chè bobochacha yêu thích.

Kỳ lạ là từ ngày chui vào chỗ khuất, quán lại càng đông khách hơn. Đối tượng khách hàng cũng được mở rộng phạm vi, không chỉ còn là những cô cậu học trò mà còn có cả sinh viên hay dân văn phòng mê ăn vặt cùng tìm đến quán.



Có lẽ bởi so với các món chè khác ở Hà Nội thì bobochacha khá lạ, không hề đụng hàng. Có 3 loại chè là: đen, trắng và hoa quả, hương vị dễ ăn, dìu dịu, thanh mát mà giá cả thì hợp túi tiền với dân teen.

Quán nằm trong ngõ đối diện trường Phan Đình Phùng, bán từ tầm trưa đến kh 6h chiều thôi. Giá bán 10 nghìn đồng/1 bát nhưng bạn sẽ phải mất thêm 5 nghìn đồng tiền gửi xe ở bên ngoài.



3. Bánh giò Hồ Tây (trong vườn hoa Lý Tự Trọng)

Nằm ở vườn hoa nối Thụy Khuê và Thanh Niên, quán bánh giò nhìn bình thường và dân dã. Thực khách của quán ngồi trên những chiếc ghế nhựa nóng lòng chờ đến lượt mình. Bánh giò không phải là một món ăn lạ nhưng để tìm được một hàng bánh giò ngon thì không dễ đâu. Chọn cho mình một chỗ dưới bóng cây lộc vừng, ta ngắm nhìn bác chủ hàng khéo léo bóc bánh, cắt chả...




Bánh giò ăn nóng mềm, nhân có nhiều thịt. Đặc biệt một đĩa bánh bao giờ cũng đầy ắp giò chả và dưa chuột. Có 4 loại giò chả: giò lụa, giò bò, giò tai và chả cốm. Quán luôn tấp nập các thực khách trẻ tuổi.

Giá bán 25 nghìn đồng/bánh đầy đủ các loại chả, tuy hơi "chát" nhưng khi nhìn đĩa bánh đầy ụ giò chả, bạn sẽ thấy cũng đáng đồng tiền bát gạo.



4. Bún cá Sâm Cây Si (ngõ Trung Yên, từ Đinh Liệt rẽ vào)

Ngõ Trung Yên nhỏ xíu ngoằn nghèo nhưng có khá nhiều hàng ăn ngon, nổi tiếng. Một trong số đó là quán bún cá Sâm cây si.

Cái tên "Sâm cây si" cũng bắt nguồn từ chỗ bán hàng nằm đúng khúc cua của ngõ, bên cạnh một cây si, còn cô chủ hàng tên là Sâm. Bên ngoài quán trông hơi nhếch nhác vì nằm ở ngõ phố đông xe đi lại.



Nhưng bù lại bún cá ở đây ngon tuyệt. Cá rô phi, rán giòn, miếng cá dày, nước dùng dễ ăn.

Đặc biệt nhất là quán có cả món chả cá viên có 3 lớp, làm từ thịt xay, cá xay và vỏ bằng bột gạo. Mỗi viên chả giá 5 nghìn đồng.

Quán nằm sâu trong ngõ nên nếu muốn ăn, bạn gửi xe ở ngoài phố Hàng Bè rồi tản bộ vào.



5. Quán cháo trai (cuối đường Quán Thánh)

Quán nằm ngay phía sau đền Quán Thánh, cuối đường Quán Thánh. Bát cháo trai ở đây khá đầy. Nếu bạn đi 3 - 4 người chỉ nên gọi 2 bát và gọi thêm một số món khác. Cháo trai giá 20 nghìn đồng/bát, trà đá 3 nghìn đồng/1 cốc.



Một món ăn của quán này cũng được nhiều người ưa thích là bún ốc nguội. Bún ốc nguội nếu có giò, thịt bò, đậu và cả ốc là 45 nghìn đồng. Nếu chỉ có ốc là 30 nghìn đồng.

Giá cả ở đây không rẻ nhưng chất lượng thì tuyệt vời.



6. Bún cá ngõ Hồng Phúc

Vị trí: Ngõ Hồng Phúc, gần bốt Hàng Đậu. Nếu đi đường Hàng Than thì tìm sẽ mất công hơn. Bạn nên đi đường Hàng Đậu, ngõ Hồng Phúc nằm bên tay trái.


Đây là hàng bún lâu năm, được rất nhiều người ưa thích. Quán mở 24/24h nhưng chưa bao giờ vắng khách. Trước kia, ngõ Hồng Phúc chỉ có một hàng bún cá, cùng với thời gian và sự phát triển thì ngày càng có thêm nhiều hàng quán được mở ra để đáp ứng nhu cầu của thực khách.



Phố “bún cá” là một điểm đến hấp dẫn cho những lữ khách chơi đêm. Bát bún cá ở đây khá đầy đặn: thịt cá nhiều và được cắt miếng dày, vuông vức, rán vàng, chả cá mỏng kiểu Hải Phòng tất cả được "nhúng" nước dùng chua dịu vô cùng thơm ngon. Thêm vào đó, hàng có thêm đặc sản là đầu cá rán giòn, chan chút nước dùng chua chua, thêm dọc mùng, nhâm nhi cũng rất hợp rượu.

Một điểm cộng cho bún cá Hồng Phúc là giá cả không có sự chênh lệch như những hàng ăn đêm khác. 30.000đ/bát là số tiền bạn phải trả cho một bát bún hấp dẫn này.




7. Chả nhái Khương Thượng

“Tổ” của món chả nhái chính là Làng Khương Thượng. Chẳng thế mà ngày xa xưa người ngoài gọi làng này là làng “xẻ ruột, lột da” để ám chỉ về cách chế biến món nhái, ếch, chão chuộc của người trong làng.

Cửa hàng nhà chị Hà Khuê, với tuổi đời 70 năm là đông khách nhất. Quán chỉ bán từ 10 giờ sáng đến 1 giờ chiều.
Gọi là cửa hàng cho oai chứ chị làm chả nhái và bán luôn tại nhà, chỉ phục vụ những nhóm khách ăn từ 6 người trở lên. Khách mua về cũng rất đông, nhiều buổi xếp hàng chật cả ngõ.



Các món chế biến từ nhái được gọi bằng những cái tên khá ngộ, đôi khi hơi tục: Đùi nhái chiên giòn là món quần đùi, nhái tẩm ướp rán cả con là món nude, nhái tẩm bột chiên giòn cả con là món "quần dài", nhái băm chả gọi là trải chiếu.

Nếu đi đông người, tầm giá ăn trung bình là 50 đến 80 nghìn đồng/người. Bà chủ ở đây hơi khó tính, tốt nhất các bạn nên mua về nhà ăn.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Yeudulich và nhiều nguồn khác

Thăng Long Tứ Trấn (Hà Nội)


Thăng Long - Hà Nội bước vào tuổi 1000, những công trình kiến trúc của thuở đầu định đô nếu không để lại dấu tích trong lòng đất thì chỉ còn định vị được trên mặt đất với một diện mạo mới đa phần thuộc các thế kỷ XVIII-XIX. 

"Thăng Long tứ trấn" thuộc trường hợp sau, nhờ đó chúng ta biết quy mô và quy hoạch của kinh thành xưa, biết định hướng phát triển văn hoá Đại Việt và tình cảm của người dân kinh kỳ đối với những di tích này.

Các tư liệu lịch sử và khảo cổ đã xác định kinh thành Thăng Long từ thời Lý là một thành thị lớn của thời trung đại, giới hạn vòng ngoài là đường đê bao quanh: ở phía đông là đê sông Hồng chạy qua Yên Phụ vào đường Hoàng Hoa Thám ở phía bắc, đến chợ Bưởi rẽ theo đường Bưởi ở phía tây, tới Ô Cầu Giấy thì tách đôi...

..., vòng trong bắt vào đường Giảng Võ nối với đường La Thành đến Ô Chợ Dừa thì lên đường đê Kim Liên ở phía nam chạy sang đường Đại Cồ Việt, rồi đường Trần Khát Chân ra đê sông Hồng ở Ô Đống Mác (còn phía ngoài thì từ Ô Cầu Giấy qua đường Láng đến Ngã Tư Sở nối đường Trường Chinh rồi đường Nguyễn Thị Minh Khai ra đê sông Hồng ở bến Phà Đen).

Trên đường bao ấy được người xưa đắp cao làm phòng thành cản giặc và cũng là đường đê chống lũ lụt, ở mỗi phía được xây một ngôi đền thờ vị thần bảo vệ từng mặt cho kinh thành: phía đông có đền Bạch Mã, phía bắc có đền Quán Thánh, phía tây có đền Voi Phục và phía nam có đền Kim Liên. Các vị thần này trấn giữ xung quanh kinh thành Thăng Long, do đó đền thờ các vị được gọi là "Thăng Long tứ trấn". Những di tích này trải qua bể dâu biến đổi, không còn dấu tích gì của ngày khởi dựng.



Thư tịch và truyền thuyết luôn khẳng định không có sự chuyển dịch qua thời gian mà chỉ có sự bổ sung, làm mới ở các thế kỷ sau. Người xưa coi đấy là những mảnh đất thiêng, nơi hội tụ linh khí để đảm bảo cho kinh thành luôn ở thế rồng bay lên ( Thăng Long thời Lý- Trần- Lê), hay ít ra cũng là sự thịnh vượng (Thăng Long thời Nguyễn), để ngày nay Hà Nội được thế giới công nhận là Thành phố vì hoà bình. Niềm tin của nhân dân từ bao đời nay, gia đình cũng như cả cộng đồng đã có các thần linh bảo vệ thì mọi thế lực tà ma quỷ quái sẽ không quấy đảo được nữa, do đó, mọi người mới an cư lạc nghiệp.

Từ niềm tin thuần phác ấy, trừ những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhân dân thủ đô luôn chăm sóc cho tứ trấn khang trang, hương khói đề huề. Và ngày nay trong chương trình tiến tới kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội, thành phố đã có kế hoạch tu sửa và nâng cấp các di tích này.



Kinh thành trước hết là trung tâm chính trị, vua và triều đình bàn bạc các việc quốc gia đại sự trong chính điện, từ đây chỉ đạo các công việc của cả nước. Ngồi chủ trì các sinh hoạt chính trị, vua được coi là "thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ văn", luôn ngoảnh nhìn về phương nam nghe các quan tâu bày. Vì thế chính điện cũng như toàn kinh thành luôn lấy phía nam làm mặt tiền, là diện mạo của kiến trúc cung đình. Như thế, với Thăng Long tứ trấn thì đền Kim Liên được coi trọng hàng đầu, nhưng do đền không gần cửa ô - cửa ngõ thủ đô, ngay cả khi Hà Nội được cuốn vào quy hoạch thành phố thuộc địa, nó vẫn thuộc một làng còn đậm chất quê, thậm chí ngày nay làng quê đã đô thị hoá thì lối đi qua cửa đền vẫn là một đường giao thông rất phụ, do đó dường như đền bị lãng quên.

Đền xưa bị phá từ lâu, chỉ còn là ngôi miếu nhỏ mang tính chất một nhà bia, lại ở kề sát sườn đình nên đình kinh gắn liền với đình làng và trong tâm thức người dân địa phương đã trở thành đình làng Kim Liên, từ cấp quốc gia xuống cấp thôn/phường! Một số sách báo về di tích này cũng giản đơn hoá nó theo xu hướng trên. Giờ đây Hà Nội nâng cấp di tích, cần nâng tầm cho nó về đúng vị thế ban đầu là đền thần trong hệ thống tứ trấn của kinh thành.



TRẤN NAM - ĐỀN KIM LIÊN

Đền Kim Liên thuộc làng Kim Liên, phường Phương Liên, quận Đống Đa, ở phía nam thành phố. Đền xưa đã bị phá nhưng hiện vật quan trọng là tấm bia cao hơn 2m5 thuộc loại bia lớn nhất ở Hà Nội, khắc bài văn Cao Sơn Đại Vương Thần từ bi minh tính tự (bài minh và bài văn bia đền thần Cao Sơn đại vương) soạn năm Canh Ngọ niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 tức năm 1510, vẫn còn rất tốt, được bảo quản trong một ngôi miếu nhỏ dưới gốc đa cổ thụ, luôn gợi ra một cảnh quan thâm nghiêm trang trọng.

Đền được dựng ở bên trái của đình làng Kim Liên, ở trên một gò đất cao, từ sân lên nghi môn phải qua 9 bậc xây bằng gạch vồ cổ. Chín bậc như ở hệ thống cửa điện Kính Thiên trong thành Hà Nội, gợi nơi ngự của thần được xếp ngang cấp với vua ở chốn cửu trùng, phía trước là sân rộng qua cổng với hai cột đồng trụ cao vút vuông thành sắc cạnh nhìn ra chỗ nở của một lạch nước là nơi tụ thuỷ - tụ phúc. Đình đã được dân làng sửa sang, có đại bái dàn ngang và hậu cung chạy dọc, hai bên sân còn có giải vũ, cùng với cây cao bóng cả là bộ mặt văn hoá làng xưa.



Trong đình còn giữ được tới 39 đạo sắc phong của các thời Lê và Nguyễn cho Cao Sơn đại vương, chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của triều đình phong kiến xưa. Văn bia cho biết Cao Sơn đại vương là một trong số trăm con của Lạc Long Quân và Âu Cơ, đã từng giúp Sơn Tinh đánh thắng Thuỷ Tinh, đầu thế kỷ XVI lại giúp vua Lê dẹp loạn giữ yên ngai vàng. Thực chất huyền thoại trên là lớp văn hoá muộn phủ lên tín ngưỡng gốc của nhân dân về việc thờ thần Núi rất phổ biến ở miền trung du thuộc xứ Đoài, nơi có núi chủ Tản Viên Ba Vì, được khái quát là Cao Sơn đại vương hay Tản Viên sơn thánh.

Thờ thần Núi vốn gốc vùng đất tổ, gắn với buổi bình minh của dân tộc, khi đất nước thực sự phát triển trong kỷ nguyên độc lập thì Thần được rước về kinh thành, lại trấn phía nam là vùng đất trũng hướng về đồng bằng đang được khai thác và mở rộng. Có thể xem thần Núi là thiếu dương nằm trong miền đất thái âm rộng lớn.

Tấm bia quý trên có trang trí các hình rồng, mây, hoa, lá, sóng nước phù hợp với thời điểm soạn văn năm 1510, có nghĩa nó đã được tạc và dựng ở đầu thế kỷ XVI, nhưng mặt sau bia vào năm Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 tức 1772 được khắc thêm một thông tin: nguyên bia này lập tại Phụng Hoá, nó trôi nổi về bến sông Bồ Đề. Năm Hoằng Định (đầu thế kỷ XVII) bản phường vớt lên đem về đặt ở đất chùa, do có nhiều điều thiêng liêng huyền bí, nhân dân lại làm lễ rước sang bên trái đình để tỏ sự tôn kính. Tấm bia rất nặng, tất nhiên không thể trôi nổi trên sông nước, nhưng đó là con đường di chuyển của vị thần Núi biểu hiện sự hội nhập âm dương, tạo nên sự linh thiêng, gắn với cả cảnh Phật và đất Vua, được thời gian kiểm chứng và khẳng định.



TRẤN TÂY- ĐỀN VOI PHỤC

Đền Voi Phục dựng trên đất làng Thủ Lệ, phường Cầu Giấy, ở phía tây thủ đô, thuộc quận Ba Đình, trên gò đất thấp nhìn xuống hồ rộng. Nơi đây nay là Vườn bách thú của thủ đô, song vốn trước đó đã là vườn hoa tự nhiên có cây cối um tùm cùng soi bóng mặt hồ. Chính cảnh vật hoang sơ ấy lại như hội tụ linh khí đất trời, tạo nên một vẻ huyền bí ở ngay nơi thắng cảnh. Vùng đất phía tây thủ đô vốn là vùng nhiều gò đồi mà nay còn để lại cái tên: Núi Trúc, Núi Bò, Núi Voi... đan xen có nhiều hồ, lạch nước, tạo sự hoà nhập cao, thấp để những vườn hoa và rau xanh như tạo cảnh thần tiên. Các vua nhà Lý thường tổ chức lễ hội Nam Sơn vạn thọ mừng sinh nhật mình ở vùng đất này.

Đền xưa vốn dựng từ thời Lý, các thời sau đều được tu sửa. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp hai lần đánh chiếm Hà Nội vào các năm 1873 và 1883, chúng hạ thành không khó, nhưng sau đó đều bị quân và dân Hà thành dụ về quanh khu đền Voi Phục căng ra đánh, giết chết chủ tướng giặc là Garnier (1873) và Rivière (1882). Sau đó chúng trả thù, đốt phá cả vùng, làm ảnh hưởng nhiều đến di tích. Rồi năm 1947, thực dân Pháp sau khi tái chiếm Hà Nội, đã mở rộng ra vùng ngoại vi, đánh lên Sơn Tây, nhân đó đốt trụi đền Voi Phục. Năm 1953 dân làng Thủ Lệ dựng lại đền, sau ngày thủ đô giải phóng đền còn được tu sửa nhiều lần, nhất là từ ngày đất nước đổi mới.



Tuy nhiên cho tới nay, đền Voi Phục có quy mô khiêm tốn, các nếp nhà còn đơn sơ và nhỏ nhoi, nhưng cái đẹp của nó là sự gọn gàng, bình dị dưới những tán cây cổ thụ, toàn công trình do con người tạo dựng cứ gắn bó hữu cơ với ngoại cảnh để trải ra như vô tận. Trong xu hướng đô thị hoá, ở vòng ngoài công viên Thủ Lệ các nhà cao tầng mọc lên đủ kiểu, cuộc sống thật ồn ã, nhịp thời gian thật sôi động; nhưng trong công viên thì đền Voi Phục với vườn cây, chuồng thú, mặt hồ vẫn giữ nét đẹp dân gian - dân tộc, là nơi sinh hoạt tâm linh và thư giãn của mọi người dân đô thành.


Ảnh xưa.

Đầu lối vào đền có tượng hai con voi quỳ, và do đó nhân dân quen gọi là đền Voi Phục, nhưng còn gọi theo tên làng sở tại là đền Thủ Lệ hoặc gọi theo tên vị thần được thờ là đền Linh Lang.

Vị thần được thờ ở đền Voi Phục là Linh Lang đại vương, con của một cung tần nhà Lý đi tắm hồ Dâm Đàm (hồ Tây) gặp rồng mà hoài thai 14 tháng sinh ra, được vua Lý Thánh Tông đưa về trại Thủ Lệ nuôi dưỡng. Khi đất nước bị quân Tống xâm lược, Linh Lang xin vua cho thớt voi rồi cưỡi đi đánh giặc. Thắng giặc rồi, ngài về lại Thủ Lệ, không bao lâu mắc bệnh, rồi hoá thành con giao long bò xuống hồ biến mất. Vua phong tước cho Linh Lang là Đại vương, sai lập đền thờ nơi ở cũ với chức danh Thượng đẳng thần, hàng năm mở hội vào ngày lập xuân.

Thực chất của việc thờ Linh Lang là tín ngưỡng thờ thần sông nước rất phổ biến ở xứ Bắc - nhất là dọc hai bên bờ sông Cầu. Đây là vùng đất cổ sớm được khai phá thành đồng ruộng với xóm làng trù mật, người nông dân với kinh nghiệm làm ruộng "nhất nước - nhì phân - tam cần - tứ giống" đã đưa việc thờ thần sông nước lên hàng đầu, nguyên thuỷ là thờ ông Cộc và ông Dài theo hình tượng con thuồng luồng, con rắn mà nơi ở chính là khúc sông Cầu hợp lưu được gọi là Ngã Ba Xà, sau nâng thành Tam Giang đại vương, rồi lại lịch sử hoá thành Trương Hống - Trương Hát. Xứ Bắc lại là quê hương nhà Lý, vương triều Lý đã rước vị thần sông nước ra kinh thành, giao cho trấn phía tây là vùng đất nhiều gò bãi và hướng về trung du xứ Đoài, nó cũng như hạt nhân thiếu âm trũng thấp của vùng đồi thái dương rộng lớn.



Trong cuộc kháng chiến chống Tống, chính vị thần sông nước này, tại đền Như Nguyệt bên bờ nam sông Cầu đã đọc bài thơ tứ tuyệt "Nam quốc sơn hà Nam đế cư" mang tinh thần bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc. Triều đình Đại Việt xây dựng kinh đô Thăng Long với hướng đi phục hưng văn hoá dân tộc, đã đưa hai thần Cao Sơn và Linh Lang của vùng đất tổ gồm cả địa bàn trung du xứ Đoài và đồng trũng xứ Bắc, về trấn hai phía nam và tây của kinh thành có địa hình ngược lại là sự chuyển hoá, đưa cái này vào làm nhân của cái kia theo quan niệm lưỡng nghi là gốc của sự phát triển.

Gắn kết Cao Sơn với Linh Lang chính là gắn kết linh khí của núi và của sông, của đất và của nước để tạo nên hình ảnh cụ thể cho khái niệm Tổ quốc thiêng liêng nhất, đồng thời cũng là việc khai thác văn hoá truyền thống để khẳng định bản sắc dân tộc của mình. Đây là một hướng đi đúng đắn và có ý nghĩa sâu sắc nhất mà ngày nay đang cần khai thác, phát huy.



TRẤN BẮC - ĐỀN QUÁN THÁNH

Đền Quán Thánh hay còn gọi là quán Trấn Vũ ở góc đường Thanh Niên và đường Quán Thánh, bên hồ Trúc Bạch nhìn ra hồ Tây, trấn phía bắc kinh thành. Đền thờ vị thần có nguồn gốc phương bắc là Huyền Thiên Chân Vũ đã hiển linh ở nước Nam, ngay từ buổi dựng nước đầu tiên đã giúp vua Hùng đánh giặc, lại theo sát lịch sử buổi đầu độc lập giúp dân trừ tà ma và chống hạn. Đây là hiện tượng thờ thần tiên với nhiều phù phép để tăng cường sức mạnh của nhân dân ta ở buổi bình minh lịch sử, lại phù hợp với tư tưởng Đạo giáo tiếp nhận từ phương Bắc, nó quán xuyến trong lịch sử trung đại Việt Nam mà ở nhiều nơi đã hoà nhuyễn với Phật giáo đến mức quán Đạo thường gọi là chùa Phật, nó đi vào cuộc sống tâm linh sâu lắng của mọi người.



Đền Quán Thánh xây dựng từ thời Lý để giữ yên phương bắc - về tâm linh là chốn có nhiều thế lực hắc ám, về lịch sử cũng là cửa ngõ của nhiều cuộc xâm lược. Tiếp nhận thần của văn hoá Trung Hoa để chống lại mọi sự quấy đảo từ bên ngoài là cách giải quyết thông minh của dân tộc ta.

Đền được xây dựng từ thời Lý, các thời sau đều có gia cố, thậm chí làm mới, ngày nay về kiểu thức kiến trúc là thuộc thời Nguyễn, còn giữ được một số hiện vật của thời Lê Trung Hưng. Khuôn viên đền khá rộng, đầu thế kỷ XX còn soi bóng được xuống hồ Tây, nay mặt trước đền là một vườn hoa nhỏ mà về văn hoá lại như cái cầu chuyển tiếp từ đền xuống mặt hồ không bị hẫng hụt. Trong sân đền nhiều cây muỗm cổ thụ chẳng những che phủ các mái nhà mà còn tạo một không gian xanh sạch đẹp liền khoảnh trong khu văn hoá- chính trị của qui hoạch thủ đô.



Hiếm có một công trình kiến trúc văn hoá có được vẻ đẹp ngoại thất như đền Quán Thánh. Từ mép đường Thanh Niên, những cột đồng trụ vút cao và sau đó là toà nghi môn kiêm gác chuông, tất cả tạo một vẻ cổ kính giữa phố phường hiện đại, nó níu kéo du khách. Vào sân đền, vườn cây cổ thụ lại được bổ sung bằng những chậu hoa cây cảnh và đặc biệt là hòn non bộ gia công khéo léo đã tạo ra một thế giới thần tiên. Kiến trúc chính của đền gồm hai toà bái đường và chính điện song hành, bên trong gắn với nhau thành một không gian nội thất thống nhất nhưng phân ra các khu vực để thờ cúng các đối tượng khác nhau.

Những toà nhà này được dựng nửa sau thế kỷ XIX, bộ khung thanh thoát, gờ soi chỉ chạy với mộng mẹo xít xao, dành phần hiên rộng làm sảnh với nhiều hình chạm điêu luyện phủ khắp các vách gỗ mặt tiền làm cho kiến trúc trở nên nhẹ nhàng và vui tươi. Di vật trong đền, ngoài bia đá, chuông và khánh đồng còn có nhiều đồ thờ tạo một không khí thâm nghiêm mà người người vào thăm cũng đều kính cẩn.

Đặc biệt có pho tượng Huyền Thiên Chân Vũ bằng đồng hun đen, đúc liền khối, ở thế ngồi cao hơn 3m, chu vi tới 8m, nặng 4 tấn, thể hiện một đạo sĩ tóc xoã, mặt vuông, một tay bắt quyết, một tay chống thanh gươm có rắn quấn quanh tì lên lưng rùa, biểu hiện được cả sức mạnh và sự trường tồn, cũng khẳng định trình độ đúc đồng cao. Tượng được đúc ở nửa sau thế kỷ XVII, đến thế kỷ XIX lại được gia công trau chuốt thêm. Người nghệ sĩ Trùm Trọng phụ trách làm pho tượng đồng trên cũng được nhân dân xưng tụng và tạc thành pho tượng đá cao bằng người thực, đầy cá tính, để phối thờ ở hồi trái của cung thánh.



TRẤN ĐÔNG- ĐỀN BẠCH MÃ

Cuối cùng là đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, xưa thuộc phường Hà Khẩu trên bờ sông Hồng cạnh cửa sông Tô Lịch, ở phía đông kinh thành, là nơi thờ thần Long Đỗ với tước hiệu Quảng Lợi Bạch Mã đại vương. Thần Long Đỗ tức thần núi Long Đỗ còn gọi là núi Nùng, nơi rốn của con rồng Thăng Long, là điểm kết tụ khí thiêng sông núi kinh thành.

Ngay từ trong thời Bắc thuộc, Cao Biền đắp thành Đại La và chôn đồng, sắt để trấn yểm long mạch nước ta, thần đã làm mưa, gió, sấm, chớp đánh bật và làm nát vụn bùa của Cao Biền, khiến y phải lập đền thờ để mong được bình yên, lại thấy vượng khí nước Nam không thể mất nên vội cuốn gói về Bắc. Thế rồi khi vua Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long, xây xong lại đổ, bèn cho người đến đền Bạch Mã cầu thần thì có một con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy một vòng tròn khép kín ngược chiều quay của kim đồng hồ, sau đó vào đền và biến mất. Nhà vua đã theo vết chân ngựa mà xây thành, sau khi xây xong bèn cho sửa sang lại đền và sắc phong Thần là "Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần".



Ngày ấy, quanh đền Bạch Mã dân mở phố chợ trên bến dưới thuyền buôn bán đông vui. Đây là cửa sông Tô Lịch nhận nước sông Hồng và là nơi giao lưu hàng hoá của kinh thành Thăng Long với các vùng miền và nước ngoài.

Một trong những nước ngoài sớm có nền văn hoá - văn minh cao và cũng sớm truyền đến nước ta là Ấn Độ. Nhân dân ta tự giác tiếp nhận một cách hoà bình văn hoá Phật giáo từ đầu công nguyên, từng phát huy nó làm công cụ đấu tranh giải phóng trong thời Bắc thuộc và xây dựng đất nước trong thời độc lập. Theo dòng lịch sử, các trung tâm Phật giáo đã chuyển dịch từ Liên Lâu qua Cổ Pháp (Bắc Ninh) về Thăng Long. Ấn Độ tuy ở phía tây, song văn hoá Ấn Độ đã theo thuyền buôn đến nước ta và vào Thăng Long ở phía đông, trong đó thần mặt trời được biểu hiện bằng ngựa trắng.

Ngày nay nhiều người đã quên mất khoá mã của loại mật mã này, song nhiều đền chùa vẫn còn tượng ngựa trắng, và nhân dân vẫn gắn ngựa với thời gian - "bóng câu qua cửa sổ". Đường chạy của ngựa thần cũng là đường chuyển động từ đông sang tây của mặt trời là sự chuyển động của vũ trụ đã thành quy luật. Thần Mặt Trời tiếp thu từ văn hoá Ấn Độ được thờ ở phía đông vừa là nơi giao lưu và hội tụ văn hoá tự nhiên, vừa biểu hiện buổi bình minh rạng rỡ mở đầu ngày mới lịch sử huy hoàng. Lớp văn hoá ấy, sau được lồng vào tín ngưỡng gốc thờ Thổ công và nâng thành Thành Hoàng của cả kinh thành. Ở khía cạnh khác sự giao lưu văn hoá Việt - Ấn còn tạo ra nhiều giá trị mới rất cao.



Như vậy, đền Bạch Mã được xây dựng sớm nhất trong hệ thống Tứ Trấn, qua thời gian luôn được tu bổ sửa chữa. Ở thời Trần, quân Nguyên xâm lược và đốt phá Thăng Long nhưng lửa không cháy đến đền. Thời Lê Trung Hưng đền được trùng tu và dân địa phương được triều đình nhận làm dân tạo lệ được miễn các nghĩa vụ với nhà nước để tập trung chăm sóc di tích.

Bộ mặt kiến trúc chính của đền còn đến nay là thuộc thời Nguyễn, quy mô có thu hẹp song từ nghi môn đến giải vũ và nhà phương đình, rồi đại bái, tiêu hương và cung cấm đã tạo một tổng thể khép kín thâm nghiêm. Từ phương đình vào, các đơn nguyên kiến trúc được nối với nhau bởi các vòm vỏ cua tạo ra một không gian nội thất chung rộng rãi, kiến trúc ở đây đã học được lối "trùng thiềm điệp ốc" của Huế và Hội An, cả một số trang trí như đèn lồng hình hoa sen cũng vậy.

Nếu việc thờ Cao Sơn và Linh Lang là sự phát huy các giá trị cổ truyền của văn hoá dân tộc thì các đền Quán Thánh và Bạch Mã lại là tiếp thu tinh hoa văn hoá lớn của nhân loại ở ngay láng giềng gần gũi giúp cho dân tộc luôn đi lên bằng cả hai nguồn sức mạnh là nội lực và ngoại sinh. Tầm nhìn ấy của cha ông từ nghìn năm trước, ngày nay càng là bài học cho chúng ta, nhất là trong thời mở cửa, thông tin bùng nổ, chúng ta càng hoà đồng càng kết tinh.

Trong cuộc cách mạng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, chúng ta đi sau nhưng biết đón đầu sẽ mau sánh bước cùng bầu bạn. Trong cả nước, đô thị hoá đang đà phi mã, nhiều thành phố mọc lên, song trong quy hoạch vẫn có thể học được ở Thăng Long tứ trấn tầm nhìn xuyên thời đại.

Du lịch, GO! - Theo Quehuong và nhiều nguồn ảnh khác

Bài đăng phổ biến